Kính gửi: Bộ Xây dựng
Căn cứ Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014 của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Luật số 62/2020/QH14 ngày 17/6/2020 về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014;
Căn cứ Nghị định số 175/2024/NĐ-CP ngày 30/12/2024 của Chính phủ về Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật xây dựng về quản lý hoạt động xây dựng.
Hiện tại, tôi đang làm trong một đơn vị thực hiện kiểm định về xây dựng, trong thời gian gian qua chúng tôi gặp một số vướng mắc liên quan đến xác định điều kiện năng lực của cá nhân đảm nhiệm chức danh chủ trì kiểm định xây dựng cần chứng minh với Chủ đầu tư. Vì vậy, Tôi kính đề nghị Quý Bộ hướng dẫn chi tiết cho tôi một số nội dung như sau:
(1) Theo Điều 87 Nghị định số 175/2024/NĐ-CP ngày 30/12/2024 quy định: “Cá nhân đảm nhận chức danh chủ trì kiểm định chất lượng, xác định nguyên nhân hư hỏng, thời hạn sử dụng của bộ phận công trình, công trình xây dựng; chủ trì kiểm định xây dựng để xác định nguyên nhân sự cố công trình xây dựng phải đáp ứng các điều kiện tương đương với cá nhân có chứng chỉ hành nghề thiết kế xây dựng phù hợp với nội dung kiểm định”.
Đối với nội dung Điều 87 nêu trên chúng tôi đề nghị Bộ Xây dựng làm rõ và hướng dẫn chi tiết “điều kiện tương đương” được xác định như thế nào theo quy định của Pháp luật hiện hành?
(2) Theo quy định tại Điều 82 Nghị định số 175/2024/NĐ-CP về điều kiện kinh nghiệm nghề nghiệp được cấp chứng chỉ hành nghề thiết kế xây dựng: “Cá nhân được xét cấp chứng chỉ hành nghề thiết kế xây dựng khi đáp ứng điều kiện chung quy định tại Điều 79 Nghị định này và điều kiện kinh nghiệm nghề nghiệp tương ứng với các hạng chứng chỉ hành nghề như sau:
1. Hạng I: Đã làm chủ nhiệm hoặc chủ trì thiết kế xây dựng, thẩm tra thiết kế xây dựng phần việc thuộc nội dung đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề 01 công trình từ cấp I trở lên hoặc 02 công trình cấp II.
2. Hạng II: Đã làm chủ nhiệm hoặc chủ trì thiết kế xây dựng, thẩm tra thiết kế xây dựng phần việc thuộc nội dung đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề 01 công trình cấp II hoặc 02 công trình cấp III.
3. Hạng III: Đã tham gia thiết kế hoặc thẩm tra thiết kế xây dựng phần việc thuộc nội dung đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề 03 công trình từ cấp III trở lên hoặc 05 công trình cấp IV”.
Như vậy, chủ nhiệm hoặc chủ trì thiết kế xây dựng, thẩm tra thiết kế xây dựng phần việc thuộc nội dung đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề theo quy định của Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014 và Luật số 62/2020/QH14 ngày 17/6/2020 sửa đổi bổ sung Luật Xây dựng phải có chứng chỉ hành thiết kế.
(3) Theo quy định tại khoản 2 Điều 79 Nghị định số 175/2024/NĐ-CP về điều kiện chung để được cấp chứng chỉ hành nghề: yêu cầu cá nhân “có trình độ chuyên môn phù hợp theo quy định tại Phụ lục VI của Nghị định này”.
Đồng thời, theo quy định tại khoản 3 Điều 73 Nghị định số 175/2024/NĐ-CP về chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng: “Các chức danh, cá nhân quy định tại khoản 3 Điều 148 của Luật Xây dựng năm 2014 được sửa đổi, bổ sung tại khoản 53 Điều 1 của Luật số 62/2020/QH14 không yêu cầu phải có chứng chỉ hành nghề theo quy định của Nghị định này khi thực hiện các hoạt động xây dựng sau:
a) Thiết kế, thẩm tra thiết kế sơ bộ được lập trong Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng;
b) Thiết kế, thẩm tra thiết kế, giám sát hệ thống thông tin liên lạc, viễn thông trong công trình;
c) Thiết kế, thẩm tra thiết kế, giám sát công tác hoàn thiện công trình xây dựng như trát, ốp lát, sơn, lắp đặt cửa và các công việc tương tự khác không ảnh hưởng đến kết cấu chịu lực của công trình; trám, vá vết nứt mặt đường; giám sát thi công nội thất công trình;
d) Các hoạt động xây dựng đối với nhà ở riêng lẻ quy định tại điểm b khoản 7 Điều 79 Luật Xây dựng năm 2014; công viên cây xanh; công trình chiếu sáng công cộng; đường cáp truyền dẫn tín hiệu viễn thông; dự án chỉ có các công trình nêu tại điểm này”.
Theo Mục 8 Phụ Lục VI “Kiểm định xây dựng – Lĩnh vực không yêu cầu chứng chỉ hành nghề”.
Như vậy, căn cứ quy định pháp luật nêu trên thì chủ trì kiểm định có yêu cầu bắt buộc phải có chứng chỉ hành nghề thiết kế xây dựng hay không bắt buộc?
(4) Theo Mục 8 Phụ lục VII Nghị định số 175/2024/NĐ-CP về chuyên môn và lĩnh vực cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng: “8. Kiểm định xây dựng - Lĩnh vực không yêu cầu chứng chỉ hành nghề”
Theo quy định thì kiểm định xây dựng là lĩnh vực không yêu cầu chứng chỉ hành nghề. Ngoài ra, tôi tìm hiểu và được biết Thủ tướng Chính phủ đang có lộ trình đơn giản hóa các điều kiện năng lực đối với tổ chức và cá nhân tham gia hoạt động xây dựng. Vì vậy, nếu yêu cầu phải có chứng chỉ hành nghề thiết kế xây dựng là chưa đồng bộ với các quy định về pháp luật hiện hành. Đề nghị, Bộ Xây dựng hướng dẫn cách xác định “lĩnh vực ghi trên chứng chỉ hành nghề thiết kế xây dựng” được hiểu như thế nào? Và có phải bắt buộc yêu cầu có chứng chỉ hành nghề thiết kế xây dựng theo Mục 8 Phụ lục VII nêu trên không?
(5) Tôi đã thực hiện công tác kiểm định đến nay đã hơn 15 năm kinh nghiệm, trong đó chủ yếu làm Chủ trì kiểm định đối với các công trình cấp I có năng lực đáp ứng phù hợp theo quy định “khoản 53 Điều 1 của Luật số 62/2020/QH14”. Tuy nhiên, tôi không thực hiện nội dung công việc liên quan đến thiết kế xây dựng, thẩm tra thiết kế xây dựng và không có chứng chỉ hành nghề thiết kế xây dựng.
Nếu quy định chủ trì kiểm định xây dựng phải có chứng chỉ hành nghề thiết kế xây dựng, thì toàn bộ năng lực kinh nghiệm trong lĩnh vực kiểm định xây dựng của tôi không đáp ứng được quy định. Việc này làm ảnh hưởng đến các công việc tôi và đơn vị tôi công tác đang trực tiếp thực hiện.
Vì vậy, kính đề nghị Quý Cơ quan làm rõ: Chức danh chủ trì kiểm định xây dựng có bắt buộc phải có chứng chỉ hành nghề thiết kế xây dựng phù hợp với nội dung kiểm định hay chỉ cần đã có kinh nghiệm đã làm chủ trì kiểm định xây dựng phù hợp với nội dung kiểm định.
Để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật: Về điều kiện năng lực hoạt động của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xây dựng đối với lĩnh vực kiểm định xây dựng, tôi kính đề nghị Bộ Xây dựng hướng dẫn chi tiết để tôi và đơn vị tôi công tác có đầy đủ căn cứ thực hiện theo đúng quy định của pháp luật hiện hành.