Kinh doanh bất động sản quy mô nhỏ và không phải thành lập doanh nghiệp kinh doanh bất động sản

Ngày cập nhật: 19/05/2026

Hỏi: (Lê Nguyên - lenguyen912hlu@gmail.com)

Theo quy định tại Điều 7 Nghị định số 96/2024/NĐ-CP hướng dẫn Luật Kinh doanh bất động sản:

“1. Cá nhân kinh doanh bất động sản quy mô nhỏ phải đáp ứng các yêu cầu sau:

a) Không thuộc trường hợp phải lập dự án đầu tư theo quy định của pháp luật về xây dựng, nhà ở;

b) Không thuộc trường hợp có giá trị quá 300 tỷ đồng trên một hợp đồng và có số lần giao dịch quá 10 lần trong một năm. Trường hợp giao dịch 01 lần trong một năm thì không tính giá trị”.

Theo đó, cá nhân kinh doanh bất động sản quy mô nhỏ phải đáp ứng hai yêu cầu sau: (1) Không thuộc trường hợp phải lập dự án đầu tư theo quy định của pháp luật về xây dựng, nhà ở;

(2) Không thuộc trường hợp có giá trị quá 300 tỷ đồng trên một hợp đồng và có số lần giao dịch quá 10 lần trong một năm. Trường hợp giao dịch một lần trong một năm thì không tính giá trị Áp dụng quy định nói trên, liệu rằng một cá nhân bán 30 bất động sản với mỗi hợp đồng giá trị 6 tỷ đồng thì có được xem là đang thực hiện kinh doanh bất động sản quy mô nhỏ để không phải thành lập doanh nghiệp kinh doanh bất động sản hay không?

Tôi đang có 2 cách hiểu như sau:

Cách hiểu thứ nhất: Cá nhân bán bất động sản mà không có giá trị quá 300 tỷ đồng và không có số lần giao dịch quá 10 lần/năm thì được xem là kinh doanh bất động sản quy mô nhỏ. Như vậy, cá nhân bán 30 bất động sản mỗi hợp đồng giá trị 6 tỷ đồng thì không được xem là kinh doanh bất động sản quy mô nhỏ vì có số lần giao dịch quá 10 lần/năm (bán 30 bất động sản). Theo đó, cá nhân này phải đăng ký kinh doanh thành lập doanh nghiệp kinh doanh bất động sản.

Cách hiểu thứ hai: Không thuộc trường hợp có “giá trị quá 300 tỷ đồng trên một hợp đồng và có số lần giao dịch quá 10 lần/năm”. Cụm điều kiện “có giá trị quá 300 tỷ đồng trên một hợp đồng và có số lần giao dịch quá 10 lần/năm” là một tổ hợp điều kiện đồng thời. Như vậy, chỉ khi cá nhân vừa thực hiện giao dịch vượt quá 10 lần/năm, và đồng thời có ít nhất một hợp đồng bất động sản có giá trị vượt quá 300 tỷ đồng, thì mới bị coi là vượt phạm vi “quy mô nhỏ” và phải đăng ký kinh doanh.

Trong các trường hợp còn lại, như cá nhân thực hiện 30 giao dịch/năm nhưng không hợp đồng nào vượt quá 300 tỷ đồng hoặc thực hiện giao dịch dưới 10 lần/năm nhưng giá trị giao dịch trên 300 tỷ đồng/hợp đồng, thì cá nhân này vẫn được xem là chưa vượt ngưỡng của tổ hợp điều kiện đồng thời trên và không phải đăng ký kinh doanh bất động sản. Vậy xin hỏi quý cơ quan là cách hiểu nào đúng để tôi có thể áp dụng vào thực tiễn cho đúng quy định?

Trả lời:

Về nội dung này, Cục Quản lý nhà và thị trường bất động sản có ý kiến như sau:

Tại khoản 1 Điều 3 của Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 quy định: “1. Kinh doanh bất động sản là hoạt động nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận thông qua việc bỏ vốn để tạo lập nhà ở, công trình xây dựng, quyền sử dụng đất đã có hạ tầng kỹ thuật trong dự án bất động sản để bán, chuyển nhượng; cho thuê, cho thuê lại, cho thuê mua nhà ở, công trình xây dựng; cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất đã có hạ tầng kỹ thuật trong dự án bất động sản; chuyển nhượng dự án bất động sản; kinh doanh dịch vụ bất động sản”.

Tại khoản 1 và khoản 3 Điều 9 của Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 quy định về điều kiện của tổ chức, cá nhân kinh doanh bất động sản như sau:

“1. Tổ chức, cá nhân khi kinh doanh bất động sản phải thành lập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp hoặc thành lập hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo quy định của pháp luật về hợp tác xã, có ngành, nghề kinh doanh bất động sản (gọi chung là doanh nghiệp kinh doanh bất động sản), trừ trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều này.

...3. Cá nhân kinh doanh bất động sản quy mô nhỏ thì không phải thành lập doanh nghiệp kinh doanh bất động sản nhưng phải kê khai nộp thuế theo quy định của pháp luật”.

Tại khoản 1 Điều 7 của Nghị định số 96/2024/NĐ-CP ngày 24/7/2024 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Kinh doanh bất động sản quy định:

“1. Cá nhân kinh doanh bất động sản quy mô nhỏ phải đáp ứng các yêu cầu sau:

a) Không thuộc trường hợp phải lập dự án đầu tư theo quy định của pháp luật về xây dựng, nhà ở;

b) Không thuộc trường hợp có giá trị quá 300 tỷ đồng trên một hợp đồng và có số lần giao dịch quá 10 lần trong một năm. Trường hợp giao dịch 01 lần trong một năm thì không tính giá trị”.

Căn cứ các quy định nêu trên, cá nhân nếu đáp ứng đầy đủ các yêu cầu quy định tại khoản 1 Điều 7 của Nghị định số 96/2024/NĐ-CP thì được xem xét thuộc trường hợp kinh doanh bất động sản quy mô nhỏ và không phải thành lập doanh nghiệp kinh doanh bất động sản.

Cục Quản lý nhà và thị trường bất động sản