Trung tâm cung ứng dịch vụ công có làm được chủ đầu tư dự án xây dựng

Ngày cập nhật: 29/01/2026

Hỏi: (Huỳnh Văn Thống - huynhthongcl1991@gmail.com)

Tôi đang công tác tại Trung tâm cung ứng dịch vụ công của xã để cung cấp các dịch vụ công thiết yếu về văn hoá, thể thao, du lịch, quản lý bến xe, hệ thống chiếu sáng, chợ, công viên cây xanh trên địa bàn xã. Tuy nhiên, hiện nay UBND xã giao cho đơn vị tôi làm chủ đầu tư dự án các dự án đầu tư xây dựng trên địa bàn xã từ nguồn vốn tỉnh bổ sung và vốn đầu tư công.

Theo quy định khoản 1 Điều 7 Luật Xây dựng 2014 (sửa đổi 2020): “Đối với dự án sử dụng vốn đầu tư công, việc xác định chủ đầu tư được thực hiện theo căn cứ điều kiện cụ thể của dự án sử dụng vốn đầu tư công, người quyết định đầu tư giao Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành hoặc Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng khu vực làm chủ đầu tư. Trường hợp không có Ban quản lý dự án hoặc có Ban quản lý dự án nhưng không đủ điều kiện thực hiện thì người quyết định đầu tư giao cơ quan, tổ chức có kinh nghiệm, năng lực quản lý làm chủ đầu tư”.

Theo quy định tại điểm c khoản 5 Điều 25 Nghị định 175/2024/NĐ-CP: “c) Cá nhân được giao phụ trách lĩnh vực chuyên môn của dự án phải có chứng chỉ hành nghề có hạng phù hợp với nhóm dự án, cấp công trình và công việc đảm nhận, cụ thể: đối với lĩnh vực về phạm vi và kế hoạch công việc, khối lượng công việc, chất lượng xây dựng, tiến độ thực hiện, an toàn trong thi công xây dựng và bảo vệ môi trường trong xây dựng phải có chứng chỉ hành nghề về quản lý dự án hoặc giám sát thi công xây dựng; lĩnh vực chuyên môn về chi phí đầu tư xây dựng và quản lý rủi ro phải có chứng chỉ hành nghề về định giá xây dựng”.

Như vậy việc xác định chủ đầu tư phải có kinh nghiệm và năng lực quản lý. Tuy nhiên, trong đơn vị tôi không có cá nhân nào có chuyên môn về xây dựng nên không có cá nhân nào có chứng chỉ phù hợp với quy định trên. Để thực hiện đúng quy định về pháp luật đầu tư công, Luật Xây dựng, tôi xin hỏi như vậy đơn vị tôi có đủ điều kiện làm chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng không?

Trả lời:

Sau khi nghiên cứu, Cục Kinh tế - Quản lý đầu tư xây dựng có ý kiến như sau:

Theo quy định tại định khoản 3 Điều 7 Luật Xây dựng năm 2014 được sửa đổi, bổ sung tại khoản 4 Điều 1 Luật số 62/2020/QH14: “Căn cứ điều kiện cụ thể của dự án sử dụng vốn đầu tư công, người quyết định đầu tư giao Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành hoặc Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng khu vực làm chủ đầu tư. Trường hợp không có Ban quản lý dự án hoặc có Ban quản lý dự án nhưng không đủ điều kiện thực hiện thì người quyết định đầu tư giao cơ quan, tổ chức có kinh nghiệm, năng lực quản lý làm chủ đầu tư”. Theo đó, việc lựa chọn chủ đầu tư thuộc trách nhiệm của người quyết định đầu tư.

Đồng thời, người quyết định đầu tư quyết định áp dụng một trong các hình thức tổ chức quản lý dự án theo quy định tại Điều 62 Luật Xây dựng năm 2014 được sửa đổi, bổ sung tại khoản 19 Điều 1 Luật số 62/2020/QH14. Theo đó, đối với hình thức chủ đầu tư sử dụng bộ máy chuyên môn trực thuộc để quản lý dự án thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 27 Nghị định số 175/2024/NĐ-CP ngày 30/12/2024 của Chính phủ, trong đó chủ đầu tư sử dụng bộ máy chuyên môn trực thuộc có đủ điều kiện, năng lực để tổ chức quản lý dự án đầu tư xây dựng; chủ đầu tư ban hành quyết định để phân công cụ thể quyền hạn và trách nhiệm của các thành viên tham gia quản lý dự án. Trường hợp không đủ điều kiện thực hiện, Chủ đầu tư được thuê tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện năng lực theo quy định tại Điều này để tham gia quản lý dự án.

Đối với hình thức thuê tư vấn quản lý dự án đầu tư xây dựng thì thực hiện theo quy định tại Điều 28 Nghị định số 175/2024/NĐ-CP ngày 30/12/2024 của Chính phủ.

Cục Kinh tế - Quản lý dự án đầu tư xây dựng