Hướng dẫn xác nhận điều kiện về thu nhập để được mua, thuê mua nhà ở xã hội

Ngày cập nhật: 01/04/2026

Hỏi: (Nguyễn Minh Tùng - Hà Nội)

Tôi đủ điều kiện thu nhập để mua nhà ở xã hội (dưới 20 triệu/tháng trong 12 tháng liền kề). Tuy nhiên, trong năm 2025 tôi làm việc tại 04 công ty khác nhau. Khi làm thủ tục theo mẫu số 04 (văn bản hợp nhất 08/VBHN-BXD năm 2025), tôi gặp vướng mắc: Công ty tôi đang làm chỉ xác nhận phần lương thọ trả (từ tháng 9-12/2025) và từ chối xác nhận tổng thu nhập 12 tháng vì không kiểm tra được chính xác thu nhập từ 03 công ty còn lại, đồng thời không muốn chịu trách nhiệm nếu các công ty kia xác nhận không chính xác (tội làm giấy tờ giả để trục lợi điều kiện mua nhà ở xã hội). Hiện tôi có đủ giấy tờ xác nhận thu nhập thực tế và bảng lương từ cả 04 công ty trong năm 2025. Xin hỏi:

1. Mẫu 04 bắt buộc phải do một doanh nghiệp duy nhất xác nhận tổng thu nhập 12 tháng hay có thể chấp nhận nhiều xác nhận riêng lẻ từ doanh nghiệp nơi người lao động đã làm việc?

2. Trong trường hợp doanh nghiệp hiện tại từ chối xác nhận tổng hợp thu nhập vì lý do trách nhiệm do tội làm giả giấy tờ để trục lợi chính xác, tôi có thể nộp đồng thời giấy xác nhận và bảng lương của tất cả các công ty đã trả thu nhập trong kỳ kê khai hay không?

Trả lời:

Sau khi nghiên cứu, Cục Quản lý nhà và thị trường bất động sản có ý kiến như sau:

- Tại khoản 6 Điều 76 Luật Nhà ở năm 2023 quy định đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội: “6. Công nhân, người lao động đang làm việc tại doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã trong và ngoài khu công nghiệp”.

- Tại khoản 1 Điều 78 Luật Nhà ở năm 2023 quy định đối tượng quy định tại các khoản 1, 4, 5, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều 76 của Luật Nhà ở năm 2023 để được mua, thuê mua nhà ở xã hội thì phải đáp ứng đủ các điều kiện về nhà ở và điều kiện về thu nhập.

- Ngày 10/10/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 261/2025/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2024/NĐ-CP ngày 26/7/2024 của Chính phủ và Nghị định số 192/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ, theo đó, tại khoản 2 Điều 1 đã sửa đổi, bổ sung khoản 1 và khoản 2 Điều 30 Nghị định số 100/2024/NĐ-CP như sau: “1. Đối với các đối tượng quy định tại các khoản 5, 6 và 8 Điều 76 của Luật Nhà ở thì phải đảm bảo điều kiện về thu nhập như sau:

a) Trường hợp người đứng đơn là người chưa kết hôn hoặc được xác nhận là độc thân thì có thu nhập bình quân hàng tháng thực nhận không quá 20 triệu đồng tính theo Bảng tiền công, tiền lương do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc xác nhận.

Trường hợp người đứng đơn là người chưa kết hôn hoặc được xác nhận là độc thân đang nuôi con dưới tuổi thành niên thì thu nhập bình quân hàng tháng thực nhận không quá 30 triệu đồng tính theo Bảng tiền công, tiền lương do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc xác nhận.

b) Trường hợp người đứng đơn đã kết hôn theo quy định của pháp luật thì người đứng đơn và vợ (chồng) của người đó có tổng thu nhập bình quân hàng tháng thực nhận không quá 40 triệu đồng tính theo Bảng tiền công, tiền lương do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc xác nhận.

c) Thời gian xác định điều kiện về thu nhập theo quy định tại điểm a, điểm b khoản này là trong 12 tháng liền kề, tính từ thời điểm cơ quan có thẩm quyền thực hiện xác nhận…”

- Tại Mẫu số 01a của Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư số 32/2025/TT-BXD ngày 10/11/2025 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 05/2024/TT-BXD ngày 31/7/2024 của Bộ trưởng Bộ trưởng Bộ Xây dựng quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở (đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 3 Điều 1 Thông tư số 08/2026/TT-BXD ngày 15/02/2026 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư trong lĩnh vực nhà ở) đã hướng dẫn về giấy tờ chứng minh đối tượng, thu nhập để được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội (áp dụng cho các đối tượng quy định tại các khoản 5, 6, 8 Điều 76 của Luật Nhà ở, trừ đối tượng quy định tại khoản 5 Điều 76 của Luật Nhà ở không có hợp đồng lao động, không được hưởng lương do cơ quan Bảo hiểm xã hộ chi trả).

Như vậy, pháp luật về nhà ở đã quy định rõ thời gian xác nhận điều kiện về thu nhập để được mua, thuê mua nhà ở xã hội là 12 tháng liền kề, tính từ thời điểm cơ quan có thẩm quyền thực hiện xác nhận. Đối tượng quy định tại khoản 6 Điều 76 xác nhận đối tượng, thu nhập để được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở thực hiện theo Mẫu số 01a nêu trên do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc thực hiện xác nhận trong khoảng thời gian người kê khai làm việc (tổng thời gian xác nhận là 12 tháng liền kề). Trên đây là nội dung trả lời của Bộ Xây dựng, đề nghị công dân nghiên cứu, thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

Cục Quản lý nhà và thị trường bất động sản