
Theo các cơ quan quản lý, công tác bảo hành và công tác bảo trì công trình là hai việc hoàn toàn khác nhau (Ảnh minh hoạ).
Tại buổi trao đổi, Ông Lê Quyết Tiến, Cục trưởng Cục Kinh tế - Quản lý đầu tư xây dựng (Bộ Xây dựng) (đơn vị được Bộ Xây dựng giao chủ trì tham mưu trả lời đề xuất trên) khẳng định quan điểm của Bộ Xây dựng khuyến khích các chủ đầu tư, nhà thầu kéo dài thời gian bảo hành các công trình, trong đó bao gồm công trình giao thông. Tuy nhiên, với đề xuất của Công ty Sơn Hải kéo dài thời gian tối thiểu bảo hành đối với toàn bộ công trình giao thông tối thiểu 10 năm thì cần phải nghiên cứu, đánh giá tác động kỹ lưỡng.
“Bộ Xây dựng không phản đối kéo dài thời gian bảo hành công trình của nhà thầu, nhưng để nâng thời gian bảo hành và quy phạm hóa cho tất cả công trình phải có nghiên cứu, báo cáo đánh giá tác động cụ thể với từng loại công trình, bảo đảm trách nhiệm giữa cơ quan quản lý khai thác, nhà thầu”, Cục trưởng Cục Kinh tế - Quản lý đầu tư xây dựng nhấn mạnh.
Theo quy định hiện hành, thời gian bảo hành là thời gian tối thiểu, cụ thể là 2 năm đối với công trình cấp đặc biệt và cấp I sử dụng vốn đầu tư công. Trong thời gian này, nhà thầu phải thực hiện nghĩa vụ bảo hành chất lượng công trình do đơn vị thi công theo quy định của hợp đồng. Quy định này được áp dụng trên cơ sở nghiên cứu thông lệ quốc tế, khảo sát và đánh giá phù hợp với đặc điểm của loại công trình này.
“Vừa qua, dư luận xã hội hiểu chưa chính xác về quan điểm của Bộ Xây dựng, cho rằng Bộ phản đối, bác đề xuất kéo dài thời gian bảo hành của Công ty Sơn Hải là hoàn toàn không chính xác. Quan điểm của Bộ Xây dựng luôn khuyến khích các doanh nghiệp tự nguyện kéo dài thời gian bảo hành khi thương thảo ký hợp đồng gói thầu, dự án. Việc gia hạn thời gian bảo hành là vấn đề thương lượng tự nguyện giữa chủ đầu tư và nhà thầu, còn để quy phạm hóa thì cần phải được nghiên cứu, đánh giá kỹ lưỡng”, ông Lê Quyết Tiến nhấn mạnh.
Ông Lê Quyết Tiến cũng lưu ý cần phân định rõ về quy định "bảo hành" và "bảo trì" đối với công trình giao thông, Cục trưởng Cục Kinh tế - Quản lý đầu tư xây dựng cho biết, bảo hành là trách nhiệm khắc phục lỗi do nhà thầu thi công gây ra, trong khi bảo trì do cơ quan quản lý khai thác chi trả nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của công trình như dọn dẹp sau mưa bão, sơn lại vạch kẻ đường, sửa chữa hao mòn bề mặt sau nhiều năm…
“Đề xuất kéo dài thời gian bảo hành công trình giao thông để giảm chi phí bảo trì là không hợp lý, kinh phí bảo hành không dùng để trả cho chi phí bảo trì trong mọi trường hợp”, Cục trưởng Cục Kinh tế - Quản lý đầu tư xây dựng cho biết thêm.
Bên cạnh đó, đề xuất kéo dài thời gian bảo hành công trình giao thông lên 10 năm sẽ trùng với thời điểm thực hiện công tác sửa chữa định kỳ theo yêu cầu của quy trình bảo trì. Điều này sẽ dẫn đến khó phân định trách nhiệm sửa chữa của bảo hành với bảo trì khi công trình đến thời điểm phải thực hiện bảo trì theo yêu cầu của tiêu chuẩn kỹ thuật.
Ngoài ra, nếu áp dụng cứng một mức bảo hành tối thiểu 10 năm cho toàn bộ công trình giao thông, chi phí bảo lãnh, bảo hiểm, dự phòng rủi ro và giá dự thầu sẽ tăng lên đáng kể, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay doanh nghiệp đang phải chịu nhiều áp lực tăng giá nhiên liệu vật liệu, chi phí vận tải, chi phí lãi vay.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Chủng, Chủ tịch Hiệp hội các Nhà đầu tư công trình giao thông đường bộ Việt Nam (VARSI) khẳng định: Pháp luật Việt Nam quy định thời gian bảo hành là thời gian tối thiểu (24 tháng đối với công trình cấp đặc biệt và cấp I, sử dụng vốn đầu tư công) nhà thầu thực hiện nghĩa vụ bảo hành chất lượng công trình do mình thi công theo quy định của hợp đồng và không hạn chế việc kéo dài thời gian bảo hành khi các bên thấy cần thiết và thống nhất thỏa thuận trong hợp đồng. Kéo dài thêm thời gian bảo hành cần được cân nhắc thận trọng để áp dụng với một số hạng mục kết cấu nhất định của công trình (không phải toàn bộ công trình) như thông lệ quốc tế và bảo đảm phù hợp yêu cầu về bảo trì.
Theo Chủ tịch VARSI, thực tế, dù 10 năm hay 20 năm sau, nếu sự cố xảy ra và cơ quan điều tra phát hiện lỗi thuộc về khâu thiết kế hay thi công, các đơn vị đó vẫn phải đền bù, thậm chí phải chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, trách nhiệm của các bên đối với công trình là xuyên suốt vòng đời của sản phẩm chứ không dừng lại ở thời hạn bảo hành.
Đại diện các nhà đầu tư công trình giao thông đường bộ cũng nhấn mạnh việc hiểu rõ bản chất nội hàm của thuật ngữ "bảo hành" và "bảo trì” đối với công trình. “Nhiều người đang nhầm lẫn nghiêm trọng khi cho rằng hết thời gian bảo hành là hết trách nhiệm”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Chủng nói.
Theo ông Đinh Công Minh, Giám đốc Ban Quản lý dự án Thăng Long, việc kéo dài thời gian bảo hành phải xem xét rất thận trọng và phụ thuộc vào đặc điểm của công trình có những hạng mục gì. “Trong một gói thầu xây lắp, có rất nhiều hạng mục. Với hạng mục bê tông, thời gian bảo hành có thể lên 10 năm, nhưng với hạng mục sơn kẻ đường, theo tính toán chỉ khoảng 2 năm sẽ hao mòn tự nhiên. Đó là lý do rất khó quy định cứng thời gian bảo hành với tất cả các hạng mục”, ông Minh dẫn giải.
Đồng quan điểm, ông Lê Thắng, Giám đốc Ban Quản lý dự án 2 (Bộ Xây dựng) nhận định, thời gian qua, biến đổi khí hậu đã gây ảnh hưởng, tác động mạnh đến chất lượng công trình, dự án. Trong một công trình giao thông, có nhiều hạng mục với “tuổi thọ” khác nhau, nếu quy định cứng kéo dài thời gian bảo hành sẽ khiến các chủ thể liên quan phải tính toán lại các điều khoản hợp đồng, phát sinh nhiều hệ lụy chưa lường hết được.
Trao đổi về đề xuất liên quan đến việc cắm biển báo minh bạch thông tin nhà thầu thi công dự án, ông Ngô Lâm, Phó Cục trưởng Cục Đường bộ Việt Nam nói rõ: Đối với công trình đường bộ, hệ thống biển báo theo quy chuẩn quốc gia về báo hiệu đường bộ.
Các biển cắm trong phạm vi hành lang đường bộ phải theo quy định pháp luật. Việc cắm biển thông tin ngoài khu vực hành lang có thể thương thảo thực hiện với cơ quan chủ quản phạm vi đó. Song, cơ quan quản lý sẽ vẫn có ý kiến nếu biển báo đó gây tác động tiêu cực.
Thông tin thêm, ông Lê Quyết Tiến, Cục trưởng Cục Kinh tế - Quản lý đầu tư xây dựng cho biết, cơ quan quản lý đang nghiên cứu, đề xuất thiết kế cho mỗi công trình sẽ được mã hoá, cấp "căn cước". Ở đó, thông tin về dự án, trong đó gồm cả thông tin các chủ thể liên quan, nhà thầu sẽ được minh bạch khi truy cập mã số công trình trên cổng thông tin dữ liệu quốc gia.