Diễn đàn quy tụ các chuyên gia, nhà khoa học, doanh nghiệp và đại diện các tổ chức trong nước, quốc tế, cùng trao đổi về những vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển mạng lưới đường sắt đô thị tại Việt Nam.

PGS.TS Nguyễn Tiến Thủy, Phó Hiệu trưởng UTH phát biểu khai mạc hội thảo
Phát biểu khai mạc, PGS.TS Nguyễn Tiến Thủy, Phó Hiệu trưởng UTH, cho rằng đường sắt đô thị cần được nhìn nhận không chỉ là một hệ thống giao thông mà còn là động lực định hình đô thị. Theo đó, mỗi nhà ga có thể trở thành một trung tâm phát triển, tạo ra những giá trị mới cho đất đai, hoạt động kinh doanh và cộng đồng xung quanh, qua đó tạo thêm nguồn lực cho đầu tư, vận hành và phát triển hệ thống đường sắt.
Từ cách tiếp cận này, việc phát triển hàng trăm kilomet đường sắt đô thị cần hướng tới hình thành một mạng lưới đồng bộ, kết nối các khu vực và tạo ra những giá trị mới cho đô thị, thay vì chỉ được đánh giá bằng chiều dài hay số lượng tuyến.
SRS 2026 tập trung vào 4 nhóm vấn đề gồm: xây dựng hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật và vận hành liên thông; quy hoạch mạng lưới đường sắt gắn với phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD); cơ chế tài chính và khai thác giá trị gia tăng từ đất đai để tái đầu tư cho hạ tầng đường sắt; chuyển giao công nghệ, nội địa hóa thiết bị và phát triển chuỗi cung ứng trong nước.
Theo TS. Nguyễn Văn Đức, Viện trưởng Viện Đường sắt tốc độ cao UTH, TP.HCM đang quy hoạch mạng lưới đường sắt đô thị gồm 27 tuyến với tổng chiều dài hơn 1.000 km, phù hợp với không gian phát triển mới sau khi mở rộng địa giới hành chính. Quy mô này đặt ra các yêu cầu về quy hoạch, tiêu chuẩn kỹ thuật, tài chính và phát triển ngành công nghiệp đường sắt.
Từ kinh nghiệm phát triển metro tại nhiều quốc gia, ông Jiang Bo, chuyên gia của Hiệp hội Metro Trung Quốc, phân tích những thách thức khi cùng tồn tại nhiều hệ tiêu chuẩn kỹ thuật khác nhau. Theo tham luận, sự khác biệt về tiêu chuẩn có thể dẫn đến thiết kế lại, kéo dài thời gian triển khai và tạo ra những ràng buộc đối với công tác bảo trì, chuỗi cung ứng. Tham luận đề xuất xây dựng một khung quản trị tiêu chuẩn có khả năng thích ứng với mạng lưới đa tiêu chuẩn, thay vì lựa chọn một tiêu chuẩn duy nhất hoặc đồng nhất hóa cứng nhắc.
Ông Jason Ng, chuyên gia Arup Việt Nam, cho rằng cần xây dựng hệ thống đường sắt đáp ứng nhu cầu đô thị, với các tiêu chuẩn chung về kiến trúc, vận hành, bảo trì và khả năng liên thông, đồng thời duy trì sự linh hoạt trong lựa chọn công nghệ. Kinh nghiệm từ Malaysia cho thấy sự khác biệt giữa các tuyến có thể gây khó khăn cho tích hợp và vận hành khi mạng lưới mở rộng.

Diễn đàn quy tụ các chuyên gia, nhà khoa học, doanh nghiệp và đại diện các tổ chức trong nước, quốc tế
Gắn phát triển đường sắt với quy hoạch và nguồn lực đô thị
Một nội dung được các chuyên gia tập trung trao đổi là mối quan hệ giữa phát triển đường sắt đô thị và cấu trúc không gian đô thị. TS. Nguyễn Đình Nên, Trường Đại học Kiến trúc TP.HCM, trình bày về định hướng quy hoạch tổng thể và mạng lưới đường sắt đô thị TP.HCM, trong đó nhấn mạnh việc chuyển từ cách tiếp cận hệ thống phục vụ khu vực trung tâm sang mạng lưới kết nối các khu vực phát triển, đồng thời sử dụng TOD để hình thành các cực tăng trưởng mới quanh nhà ga và các đầu mối giao thông quan trọng.
Trong khi đó, bà Monique Suksmaningsih, chuyên gia Broadway Malyan Singapore, đề cập cách tiếp cận từ Transit-Oriented Development (TOD) sang Transit-Oriented Community (TOC). Theo đó, hiệu quả của giao thông công cộng không chỉ được đánh giá bằng mật độ hay lượng hành khách mà còn ở khả năng tạo ra những không gian để người dân có thể sống, làm việc và kết nối.

Các đại biểu tham quan phòng mô phỏng điều khiển và khai thác đường sắt tốc độ cao
Ở góc độ tài chính, GS. Shao Jinyan, chuyên gia của Beijing Urban Construction Design & Development Group, đặt vấn đề về nguồn lực đầu tư cho đường sắt. Theo tham luận, chi phí vòng đời của đường sắt lớn trong khi nguồn thu từ giá vé khó có thể tự bảo đảm cả chi phí vận hành và hoàn vốn đầu tư. Vì vậy, TOD và cơ chế khai thác giá trị gia tăng từ đất đai cần được tính đến ngay từ giai đoạn đầu của quá trình quy hoạch.
Về công nghệ, ông Nguyễn Chí Linh, Giám đốc Trung tâm Giải pháp & Tích hợp, Viettel High Tech, trình bày về năng lực 5G và các giải pháp FRMCS cho đường sắt. Nội dung tập trung vào yêu cầu về độ tin cậy, khả năng hỗ trợ di chuyển tốc độ cao, an toàn và bảo mật trong môi trường đường sắt, đồng thời giới thiệu hướng phát triển hệ sinh thái hạ tầng viễn thông “Make in Vietnam”.
Ông Yoshiyuki Ishihara, Nippon Koei, chia sẻ kinh nghiệm từ quá trình tham gia phát triển Metro TP.HCM và các dự án đường sắt quốc tế, tập trung vào những yếu tố cần thiết để triển khai các dự án metro trong tương lai, trong đó có việc kế thừa kinh nghiệm, tích lũy tri thức và lựa chọn chiến lược phù hợp.
Từ tiếp nhận công nghệ đến từng bước làm chủ
Qua các tham luận, SRS 2026 đặt ra yêu cầu không chỉ tiếp nhận công nghệ tiên tiến mà còn phải lựa chọn, tích hợp, vận hành và từng bước làm chủ công nghệ phù hợp với điều kiện Việt Nam.
“Điều chúng ta cần nghĩ đến là 10 năm sau, chúng ta có thể làm chủ hệ thống này đến đâu - có thể không phải toàn bộ, nhưng phải là phần lớn hệ thống”, PGS.TS Nguyễn Tiến Thủy nhấn mạnh.
Tại phiên thảo luận bàn tròn, các chuyên gia, nhà khoa học, doanh nghiệp và cơ sở đào tạo tiếp tục trao đổi về những vấn đề thực tiễn, trong đó tập trung vào việc ứng dụng kinh nghiệm về tiêu chuẩn, quy hoạch, TOD và công nghệ vào phát triển mạng lưới đường sắt Việt Nam. Sinh viên UTH cũng tham gia đặt câu hỏi, trao đổi trực tiếp với các chuyên gia về những vấn đề của mạng lưới đường sắt Việt Nam.
Bên cạnh công nghệ và hạ tầng, diễn đàn cũng đề cập yêu cầu chuẩn bị nguồn nhân lực có khả năng tiếp cận, vận hành, tích hợp và phát triển công nghệ. Theo định hướng của UTH, việc tăng cường cơ sở vật chất, phát triển chương trình đào tạo và mở rộng hợp tác với doanh nghiệp, đối tác trong và ngoài nước được triển khai gắn với nghiên cứu khoa học và thực tiễn ngành giao thông vận tải.
Việc đưa Phòng mô phỏng Điều khiển và Vận hành đường sắt tốc độ cao vào khai thác là một trong những bước triển khai theo hướng này, tạo điều kiện kết nối giữa đào tạo, nghiên cứu và công nghệ, góp phần chuẩn bị nguồn nhân lực cho quá trình phát triển và hiện đại hóa ngành đường sắt Việt Nam.
SRS 2026 qua đó tạo diễn đàn kết nối chuyên gia, nhà khoa học, doanh nghiệp và cơ sở đào tạo trong nước, quốc tế, chia sẻ kinh nghiệm và tìm kiếm hướng tiếp cận phù hợp cho quá trình phát triển đường sắt Việt Nam. Tinh thần “Innovation into Practice” được đặt vào những bài toán cụ thể về tiêu chuẩn, quy hoạch, TOD, công nghệ và nguồn nhân lực, hướng tới khả năng đưa các giải pháp nghiên cứu, công nghệ và đổi mới sáng tạo vào thực tiễn.