Truyền thông Thông tư Quy định Hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu cấp nước sạch, thoát nước đô thị

Thứ tư, 05/08/2026 16:14
Từ viết tắt Xem với cỡ chữ

Ngày 5/8/2026, Cục Kết cấu hạ tầng xây dựng có Văn bản số 1351/CHT-CTN về việc truyền thông Thông tư Quy định Hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu cấp nước sạch, thoát nước đô thị.

Sự cần thiết ban hành Thông tư

Hoàn thiện cơ sở pháp lý cho quản lý dữ liệu chuyên ngành:

Các chủ trương của Đảng, Chính phủ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số xác định dữ liệu là nguồn lực quan trọng, là nền tảng để đổi mới phương thức quản lý nhà nước, nâng cao năng lực chỉ đạo, điều hành và chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Cơ sở dữ liệu cấp nước sạch và thoát nước đô thị đã được xác định là cơ sở dữ liệu chuyên ngành thuộc Bộ Xây dựng cần được xây dựng, chuẩn hóa, kết nối và chia sẻ. Vì vậy, cần có văn bản quy phạm pháp luật quy định thống nhất về nội dung dữ liệu, trách nhiệm cập nhật, cơ chế kiểm tra, xác nhận, kết nối, khai thác và bảo vệ dữ liệu.

Trong giai đoạn thử nghiệm, Hệ thống thông tin, Cơ sở dữ liệu được quản lý theo Quy chế tạm thời của Bộ Xây dựng. Quy chế này tạo nền tảng ban đầu để tổ chức vận hành, nhưng là văn bản quản lý nội bộ, chưa đủ cơ sở để điều chỉnh ổn định và thống nhất trách nhiệm của cơ quan nhà nước, chính quyền địa phương, doanh nghiệp và các tổ chức có liên quan trên phạm vi toàn quốc. Việc ban hành Thông tư sẽ chuyển cơ chế thử nghiệm sang cơ chế quản lý chính thức, minh bạch, có trách nhiệm và có khả năng thực thi lâu dài.

Khắc phục tình trạng dữ liệu phân tán, thiếu thống nhất:

Trước khi xây dựng Cơ sở dữ liệu, thông tin về đơn vị cấp nước, đơn vị thoát nước, vùng phục vụ, dân số, đấu nối, nguồn nước, nhà máy, công suất, sản lượng, mạng lưới, điểm ngập, công trình xử lý nước thải, bùn thải, giá dịch vụ, sự cố và phản ánh của người dân được quản lý tại nhiều đầu mối. Khái niệm, đơn vị đo, kỳ báo cáo và cấu trúc dữ liệu chưa đồng nhất; nhiều báo cáo được tổng hợp thủ công, khó kiểm tra nguồn gốc, khó đối chiếu giữa các kỳ và khó khai thác để phân tích, dự báo hoặc giám sát chất lượng dịch vụ.

Kết quả vận hành thử nghiệm cho thấy mô hình quản lý dữ liệu là khả thi, nhưng mức độ đầy đủ và chất lượng dữ liệu giữa các địa phương, đơn vị còn chênh lệch; quy trình cập nhật, kiểm tra, xác nhận, điều chỉnh, chia sẻ và bảo vệ dữ liệu chưa được thực hiện thống nhất. Bộ dữ liệu thử nghiệm ban đầu cũng chưa bao quát đầy đủ thông tin quy hoạch, nước thô, phạm vi phục vụ, công suất và sản lượng, phát triển mạng lưới, chất lượng dịch vụ, thoát nước mưa, ngập, thu gom và xử lý nước thải, bùn thải và các chỉ số quản lý cần thiết. Đây là những khoảng trống cần được giải quyết bằng Thông tư.

Phục vụ yêu cầu quản lý và hoạch định chính sách dựa trên dữ liệu:

Quản lý cấp nước sạch và thoát nước đô thị đòi hỏi dữ liệu có phạm vi, thời điểm, nguồn và trách nhiệm rõ ràng. Cơ quan quản lý cần biết khu vực nào đã được cung cấp dịch vụ, công suất hiện có và khả năng huy động, mức độ thất thoát nước, nhu cầu đầu tư mạng lưới, khả năng thu gom và xử lý nước thải, tình hình ngập, sự cố và phản ánh của người dân. Khi dữ liệu được chuẩn hóa và liên kết, các quyết định về quy hoạch, đầu tư, giá dịch vụ, cấp nước an toàn, giảm thất thoát, nâng cao tỷ lệ thu gom nước thải và cải thiện chất lượng dịch vụ sẽ có căn cứ đầy đủ, kịp thời và kiểm chứng được.

Phạm vi, đối tượng và bố cục của dự thảo Thông tư

Dự thảo Thông tư quy định việc xây dựng, quản lý và vận hành Hệ thống thông tin; cấu trúc, nội dung, yêu cầu kỹ thuật của Cơ sở dữ liệu; tạo lập, thu thập, cập nhật, xác nhận, chuẩn hóa, quản trị chất lượng, duy trì và lưu trữ dữ liệu; kết nối, chia sẻ, khai thác, sử dụng và bảo vệ Cơ sở dữ liệu cấp nước sạch và thoát nước đô thị thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng.

Phạm vi dữ liệu cấp nước sạch không bao gồm hệ thống nước sạch nông thôn. Tuy nhiên, trường hợp đơn vị cấp nước thuộc phạm vi Hệ thống trực tiếp cung cấp nước đến khu vực nông thôn thì dữ liệu về vùng phục vụ, dân số và đấu nối tại khu vực đó vẫn được ghi nhận, phân tổ riêng để phản ánh đầy đủ hoạt động của đơn vị, không thay thế cơ sở dữ liệu quản lý nước sạch nông thôn của cơ quan có thẩm quyền. Phạm vi thoát nước tập trung vào thoát nước đô thị và xử lý nước thải thuộc hệ thống thoát nước đô thị; không bao gồm xử lý nước thải tại chỗ, thoát nước phục vụ sản xuất nông nghiệp và sản xuất muối.

Dự thảo áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc xây dựng, quản lý, vận hành Hệ thống thông tin; tạo lập, cập nhật, quản lý, kết nối, chia sẻ, khai thác và sử dụng Cơ sở dữ liệu.

Về bố cục, dự thảo Thông tư gồm 05 chương, 28 điều và 04 phụ lục. Chương I quy định chung; Chương II quy định cấu trúc, nội dung và yêu cầu kỹ thuật của Cơ sở dữ liệu; Chương III quy định tạo lập, cập nhật, xác nhận và duy trì dữ liệu; Chương IV quy định kết nối, chia sẻ, khai thác, sử dụng và bảo vệ dữ liệu; Chương V quy định tổ chức thực hiện, điều khoản chuyển tiếp, lộ trình và hiệu lực thi hành.

Hiệu quả dự kiến khi Thông tư được ban hành

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước: Cơ sở dữ liệu thống nhất sẽ cung cấp bức tranh tương đối đầy đủ, có khả năng cập nhật và truy vết về hiện trạng cấp nước sạch, thoát nước đô thị trên phạm vi toàn quốc. Bộ Xây dựng, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Sở Xây dựng có thể theo dõi phạm vi phục vụ, dân số được cấp nước, công suất thiết kế và vận hành, sản lượng, mức độ thất thoát, tình hình phát triển mạng lưới, thu gom và xử lý nước thải, điểm ngập, sự cố và phản ánh. Dữ liệu cùng cấu trúc và cùng phương pháp tính giúp nâng cao khả năng so sánh, kiểm tra và giám sát việc thực hiện chính sách.

Cung cấp căn cứ tin cậy cho xây dựng chính sách và quyết định đầu tư: Dữ liệu về quy hoạch, vùng phục vụ, nhu cầu dùng nước, nguồn và nước thô, công suất nhà máy, tuyến truyền dẫn, mạng lưới, tỷ lệ phục vụ, thoát nước, xử lý nước thải và ngập là cơ sở để nhận diện khoảng thiếu hụt hạ tầng, dự báo nhu cầu và xác định ưu tiên đầu tư. Cơ quan quản lý có thể sử dụng dữ liệu để rà soát chính sách phát triển dịch vụ, bảo đảm cấp nước an toàn, giảm thất thoát, nâng cao tỷ lệ thu gom và xử lý nước thải, cải thiện khả năng thoát nước, kiểm soát ngập và hoàn thiện cơ chế giá, hợp đồng dịch vụ theo thẩm quyền.

Giảm báo cáo giấy, giảm trùng lặp và tiết kiệm nguồn lực: Việc chuẩn hóa trường dữ liệu, kỳ cập nhật và nguồn số liệu cho phép Hệ thống tự động tổng hợp báo cáo, chỉ số và bảng điều khiển phục vụ chỉ đạo, điều hành. Nguyên tắc tạo lập một lần, sử dụng nhiều lần và ưu tiên kết nối dữ liệu giúp giảm việc nhập lại thông tin, giảm bảng biểu rời rạc, rút ngắn thời gian tổng hợp, đối chiếu và chỉnh sửa báo cáo. Việc thay thế báo cáo giấy được thực hiện thận trọng theo lộ trình và điều kiện pháp lý, kỹ thuật, nhưng khi hoàn thành sẽ giảm đáng kể khối lượng công việc hành chính cho cơ quan quản lý và đơn vị cung cấp dịch vụ.

Tăng cường giám sát và cảnh báo phục vụ chỉ đạo, điều hành: Dữ liệu được cập nhật theo tháng, quý, năm, theo sự kiện hoặc trực tuyến tùy từng trường, giúp cơ quan quản lý phát hiện sớm xu hướng bất thường về công suất, sản lượng, áp lực, thời gian cấp nước, thất thoát, sự cố, ngập hoặc chất lượng dữ liệu. Các thông tin từ thiết bị đo, cảm biến và hệ thống giám sát hiện có có thể được kết nối theo lộ trình, hỗ trợ cảnh báo và phản ứng nhanh hơn, nhưng không thay thế trách nhiệm vận hành thiết bị, kiểm nghiệm hoặc kết luận chuyên ngành của cơ quan có thẩm quyền.

Góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ cấp nước và thoát nước: Thông tư tạo cơ sở để giám sát đồng thời mức độ bao phủ dịch vụ và chất lượng phục vụ. Đối với cấp nước, Hệ thống theo dõi tỷ lệ dân số được cấp nước trong vùng phục vụ, số đấu nối, thời gian cấp nước liên tục, áp lực tại điểm kiểm soát, tỷ lệ thất thoát, số sự cố, thời gian khắc phục, phản ánh và tỷ lệ xử lý đúng hạn. Đối với thoát nước, Hệ thống theo dõi dân số được cung cấp dịch vụ, công suất và tỷ lệ huy động công trình xử lý, tỷ lệ nước thải được thu gom và xử lý, sự cố, điểm ngập và phản ánh của người dân.

Thúc đẩy chuyển đổi số, minh bạch và khai thác giá trị dữ liệu: Cơ sở dữ liệu là nền tảng để ứng dụng hệ thống thông tin địa lý, thiết bị đo, cảm biến, dữ liệu lớn, mô hình dự báo, cảnh báo sớm và trí tuệ nhân tạo trong quản lý cấp nước, thoát nước.

Không làm phát sinh thủ tục hành chính và nghĩa vụ đầu tư mới: Dự thảo không quy định hồ sơ, trình tự, thời hạn giải quyết để cấp phép, chấp thuận hoặc xác nhận quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân; không quy định phí, lệ phí, điều kiện đầu tư kinh doanh hoặc khoản thu riêng. Việc cập nhật và xác nhận dữ liệu là quy trình nghiệp vụ trên Hệ thống. Kết nối dữ liệu từ thiết bị đo, cảm biến và hệ thống giám sát chỉ áp dụng đối với thiết bị đã được đầu tư, đang vận hành hoặc thuộc trường hợp phải trang bị theo pháp luật chuyên ngành; Thông tư không đặt ra yêu cầu đầu tư mới chỉ để phục vụ cập nhật dữ liệu.

Nguồn: Bộ Xây dựng

Tìm theo ngày :

Đánh giá

(Di chuột vào ngôi sao để chọn điểm)