Nâng cao chất lượng sản phẩm để tăng cường năng lực cạnh tranh & phát triển bền vững ngành vật liệu xây dựng trong quá trình hội nhập Quốc tế

Thứ sáu, 19/01/2007 00:00
Từ viết tắt Xem với cỡ chữ
Thực hiện chiến lược phát triển kinh tế của Đảng, ngành vật liệu xây dựng VLXD nước ta đang có bước phát triển mạnh mẽ. Chủng loại, sản lượng và chất lượng vật liệu xây dựng ngày càng đa dạng và được nâng cao, không những đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước mà còn tham gia xuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới. Mạc dù vậy, chất lượng và mẫu mã sản phẩm vật liệu xây dựng nước ta nhìn chung vấn còn là một thách thức trong quá trrình hội nhập. Do đó, nâng cao chất lượng, đa dạng hoá mẫu mã sản phẩm VLXD nước ta nhìn chung vẫn còn là một thách thức trong quá trình hội nhập. Do đó nâng cao chất lượng, đa dạng hoá mẫu mã sản phẩm là một trong những giải pháp để tăng cường năng lực hội nhập và phát triển bền vững ngành VLXD Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Trong bài này đề cập đến một số nét cơ bản về hiện trạng chất lượng VLXD và đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế của ngành VLXD.

I. Hiện trạng chất lượng sản phẩm VLXD.

1. Về quản lý chất lượng sản phẩm VLXD.
Trong thời gian qua, nhờ có chính sách mở cửa, hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế; ngành VLXD nước ta có điều kiện làm quen, tiếp cận và ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật và các công nghệ cao cũng như các kinh nghiệm về quản lý chất lượng sản phẩm của các nước tiên tiến trên thế giới. Do đó công tác quản lý chất lượng cũng được quan tâm. Hầu hết các doanh nghiệp sản xuất VLXD ssã xây dựng và áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001-2000. Hệ thống các văn bản quy phạm, tiêu chuẩn kỹ thuật về lĩnh vực VLXD cũng đã được biên soạn và ban hành khá đầy đủ và đồng bộ. Hiện nay có khoảng 305 tiêu chuẩn Nhà nước TCVN, TCXDVN và tiêu chuẩn ngành TCN về lĩnh vực VLXD; bao gồm 50 tiêu chuẩn về xi măng, 40 tiêu chuẩn về gốm sứ xây dựng, 35 tiêu chuẩn về thuỷ tinh xây dựng, 50 tiêu chuẩn về bê tông, 25 tiêu chuẩn về vật liệu chịu lửa, 55 tiêu chuẩn về vật liệu hữu cơ và hoá phẩm xây dựng...Ngoài ra, còn các tiêu chuẩn cơ sở TCC do các doanh nghiệp ban hành và công bố theo quy định của pháp luật. Hệ thống tiêu chuẩn Nhà nước về VLXD của Việt Nam nhìn chung tương đồng với tiêu chuẩn của các nước phát triển và của ISO, là công cụ quan trọng cho công tác quản lý chất lượng của cơ quan Nhà nước cũng như các doanh nhiệp.

2. Về chất lượng sản phẩm VLXD.
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, ngành VLXD là một trong những ngành công nghiệp đổi mới thiết bị và công nghệ nhanh; nhiều nhà máy được đầu tư với công nghệ tiên tiến, thiết bị hiện đại; đã và đang cung ứng cho thị trường nhiều chủng loại VLXD với chất lượng cao. Trước năm 1990 ngành xi măng Việt Nam chỉ sản xuất được sản phẩm xi măng portland mác 30 và PC 40 theo TCVN 2682 -1999; hiện nay không những đã sản xuất được xi măng mác PC 50 và PC 60, xi măng đặc biệt như: xi măng portland hỗn hợp mác PCB 40 theo TCVN 6260-1997, mà còn sản xuất được các loại xi măng đặc biệt như: xi măng portland bền sunphát, xi măng portland ít toả nhiệt, xi măng giếng khoan chủng loại G...Đối với sản phẩm gồm sứ xây dựng chất lượng cũng đã được cải thiện đáng kể, đặc biệt là sản phẩm của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: sản phẩm gốm ốp lát ceramic, granite đa dạng, phong phú về mẫu mã, màu sắc, kích thước; đã sản xuất được sản phẩm kích thước 900 x 900mm; các chỉ tiêu chất lượng đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn quy định; sản phẩm sứ vệ sinh ngày càng đa dạng về mẫu mã, kiểu dáng, các chỉ tiêu chất lượng đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn quy định. Chất lượng kính xây dựng cũng đã được nâng cao, trước năm 1995 chỉ có sản phẩm kính kéo ngang với độ dày tối đa là 5mm, chất lượng thấp; hiện nay đã có sản phẩm kính nổi Floating với độ dày đến 20mm, các chỉ tiêu chất lượng cao; ngoài ra còn có các sản phẩm sau kính như kính tôi, kính gián, kính phản quang...Các loại VLXD khác như đá ốp lát tự nhiên, đá ốp lát nhân tạo Bretónton, teraston, terado, vật liệu lợp các loại, vật liệu gỗ, vật liệu trang trí hoàn thiện...cũng rất đa dạng, phong phú và chất lượng ngày càng cao.
Kết quả kiểm định chất lượng một số vật liệu xây dựng chủ yếu tại phòng thử nghiệm VILAS 003- đã được xác nhận bởi Viện VLXD, mặc dù các doanh nghiệp sản xuất VLXD VN đã quan tâm và có nhiều cố gắng để nâng cao chất lượng sản phẩm của mình. Nhưng để đủ năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta ngày càng đầy đủ và sâu rộng, thì chất lượng VLXD sản xuất trong nước vẫn còn những vấn đề tồn tại phải suy nghĩ:
- Chất lượng của hầu hết các sản phẩm VLXD sản xuất trong nước đều đạt yêu cầu theo TCVN và Tiêu chuẩn các nước phát triển, nhưng đạt ở mức thấp thậm chí còn một số sản phẩm không đạt tiêu chuẩn; trong khi sản phẩm của các nước đạt tiêu chuẩn ở mức cao, do đó nhiều sản phẩm của ta vẫn thua kém sản phẩm của các nước về chất lượng và mẫu mã.
- Chất lượng vật liệu xây dựng ở nước ta còn có độ dao động lớn, chủng loại mặt hàng, màu sắc, mẫu mã chưa đa dạng, kích thước chưa phù hợp; chưa đáp ứng được thị hiếu của đông đảo người tiêu dùng.
- Một số loại vật liệu cao cấp, vật liệu hoàn thiện trang trí chất lượng cao, vật liệu cách âm, cách nhiệt, vật liệu mới, hoá phẩm xây dựng chưa sản xuất được trong nước.

3. Nguyên nhân của những bất cập về chất lượng VLXD hiện nay.
Những tồn tại nêu trên do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là các nguyên nhân sau:
- Đầu tư các dây chuyền công nghệ, thiết bị thiếu đồng bộ, chưa đảm bảo tính tiên tiến hiện đaị; một số cơ sở chưa đầu tư đầy đủ các thiết bị đo lường, điều khiển kiểm soát các thông số công nghệ sản xuất và chất lượng sản phẩm. Quy mô đầu tư không lớn, đầu tư còn phân tán.
- Năng lực quản lý, trình độ kỹ thuật và tay nghề của cán bộ, công nhân còn thấp; nguồn nhân lực chưa được đào tạo một cách đầy đủ, bài bản và toàn diện. Bên cạnh đó ý thức chấp hành kỷ luật công nghệ của một số người, một số doanh nghiệp chưa cao. Hầu hết các doanh nghiệp VLXD đã được cấp chứng chỉ về Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001 – 2000, nhưng việc thực hiện các quy trình của hệ thống này ở nhiều doanh nghiệp vẫn chưa tốt.
- Các doanh nghiệp VLXD Việt Nam chưa quan tâm đúng mức đến việc đầu tư nghiên cứu ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, các công nghệ cao vào thực tế sản xuất nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, do đó chưa tạo ra được những sản phẩm có chất lượng cạnh tranh.
- Việc khai thác chế biến, cung ứng nguyên liệu, vật tư và nhiên liệu cho ngành sản xuất VLXD còn những bất cập, chất lượng thấp lại không ổn định đã ảnh hưởng không tốt đến chất lượng sản phẩm.
- Hệ thống quy phạm, tiêu chuẩn kỹ thuật về lĩnh vực VLXD chưa được hoàn thiện đầy đủ theo hướng đổi mới và hội nhập, một số chỉ tiêu chất lượng của một số sản phẩm được quy định trong tiêu chuẩn VN chưa đạt mức tiên tiến; cũng là một nguyên nhân làm cho chất lượng một số sản phẩm cùng loại của nước ngoài.

II. Một số giải pháp chính tiếp tục nâng cao chất lượng sản phẩm vật liệu xây dựng đáp ứng yêu cầu cạnh tranh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang tạo cho ngành VLXD nước ta những cơ hội để phát triển, nhưng cũng phải đương đầu với không ít thách thức. Một trong những thách thức như đã trình bày ở trên là: chất lượng sản phẩm của các doanh nghiệp VLXD của Việt Nam vẫn còn những yếu kém so với sản phẩm nước ngoài. Để phát triển bền vững ngành VLXD phải giải quyết những vấn đề. Một trong những việc cần làm ngay là phải tạo ra sản phẩm có chất lượng cạnh tranh. Để thực hiện được mục tiêu này, cần tiến hành một số giải pháp chính sau đây:

1. Các dây chuyền sản xuất phải đảm bảo công nghệ tiên tiến, với các thiết bị hiện đại và đồng bộ; đặc biệt phải đầu tư đầy đủ hệ thống thiết bị đo lường điều khiển kiểm soát các thông số công nghệ sản xuất và chất lượng sản phẩm. Khi lựa chọn dây chuyền thiết bị công nghệ, tránh việc cắt giảm thiết bị công nghệ để giảm suất đầu tư nhưng lại làm giảm chất lượng sản phẩm. Hiện nay các nhà máy xi măng quy mô lớn, một số nhà máy gốm sứ xây dựng trước hết là các nhà máy do nước ngoài đầu tư, các nhà máy kính nổi...đã được đầu tư với công nghệ tiên tiến, thiết bị hiện đại và đồng bộ, nhưng cũng còn không ít nhà máy còn lạc hậu các nhà máy xi măng lò đứng, các nhà máy kính kéo, một số nhà máy gốm sứ xây dựng... cần được đầu tư đổi mới công nghệ và thiết bị.

2. Các doanh nghiệp cần phải coi trọng công tác đào tạo nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế kỹ thuật, đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề, đào tạo các chuyên gia giỏi...đủ trình độ nắm bắt thông tin khoa học, tiếp cận, làm quen, học tập, học tập được kinh nghiệm của các nước tiên tiến để làm chủ được các công nghệ mới, các thiết bị tiên tiến hiện đại. Đồng thời phải rèn luyện được ý thức chấp hành nghiêm minh kỷ luật công nghệ và sự tận tâm vì sự nghiệp phát triển của ngành đối với đội ngũ cán bộ, công nhân viên. Đây là giải pháp quyết định, nếu không có được đội ngũ cán bộ, công nhân có đủ năng lực, trình độ và ý thức tốt thì các giải pháp khác cũng vô hiệu.

3. Phải đẩy mạnh việc nghiên cứu ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào thực tế sản xuất. Thế kỷ XXI là thời đại của nền kinh tế tri thức, khoa học công nghệ, trong đó có khoa học vật liệu đang phát triển mạnh mẽ và đạt được nhiều thành tựu mới; chúng ta cần phải cập nhật thông tin, nắm bắt được những thành tựu mới của khoa học, kỹ thuật thế giới để nghiên cứu áp dụng vào thực tiễn sản xuất nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Để thực hiện được yêu cầu này các doanh nghiệp phải có bộ ophận nghiên cứu phát triển đủ năng lực, trình độ về cán bộ và trang thiết bị nghiên cứu . Một số doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã làm việc này; hoặc phải hợp tác, liên kết chặt chẽ với các cơ quan nghiên cứu khoa học có đủ năng lực để triển khai nghiên cứu.

4. Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện, đồng bộ hệ thống quy phạm, tiêu chuẩn kỹ thuật về lĩnh vực vật liệu xây dựng theo hướng đổi mới và hội nhập; tương đồng với tiệu chuẩn các nước tiên tiến trên thế giới để giúp cho các doanh nghiệp có cơ sở phấn đấu nâng cao chất lượng sản phẩm đủ năng lực cạnh tranh trên trường quốc tế. Đồng thời phải tăng cường công tác quản lý chất lượng sản phẩm của các doanh nghiệp, cũng như các cơ quan quản lý các cấp; phải làm cho mỗi cán bộ, công nhân phải nhận thức được rằng: chất lượng sản phẩm là một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.

5. Phải tổ chức tốt việc khai thác, chế biến, cung ứng nguyên, nhiên liệu cho sản xuất VLXD; trước hết là cho sản xuất gốm sứ xây dựng và kính xây dựng. Nhu cầu về nguyên, nhiên liệu và vật tư cho ngành VLXD là rất lớn; nguồn tài nguyên khoáng sản làm nguyên liệu cho sản xuất vật liệu ở nước ta có trữ lượng, đa dạng và phong phú nhưng chất lượng cũng rất biến động. Do đó việc tổ chức thăm dò, khảo sát, khai thác và chế biến tài nguyên khoáng sản làm nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu cho sản xuất VLXD; một cách khoa học, hợp lý sẽ ổn định nâng cao chất lượng đầu vào, tạo điều kiện nâng cao chất lượng sản phẩm VLXD đồng thời góp phần vào việc sử dụng hợp lý và hiệu quả tài nguyên, khoáng sản của đất nước.

Hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành một xu hướng toàn cầu, thu hút sự tham gia của nhiều nước trên thế giới; Việt Nam đã chủ động và tích cực tham gia vào quá trình này. Trong quá trình hội nhập các doanh nghiệp nước ta nói chung, các doang nghiệp VLXD nói riêng đang đứng trước những cơ hội và thách thức. Một trong những thách thức đó là sức ép cạnh tranh về chất lượng sản phẩm. Để đứng vững và phát triển các doanh nghiệp phải vượt qua mọi thách thức. Trên đây là những đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm VLXD để tăng cường năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững ngành VLXD Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

TS. Thái Duy Sâm
Nguồn: Tạp chí VLXD đương đại, số 5+6/2006
Tìm theo ngày :

Đánh giá

(Di chuột vào ngôi sao để chọn điểm)