Tin chi tiết
 
Tình hình thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01/01/2017của Chính phủ và một số kết quả chủ yếu về sản xuất kinh doanh trong tháng 7 và 7 tháng năm 2017 của các đơn vị thuộc Bộ Xây dựng
8/14/17 4:38 PM

I. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT SỐ 01/NQ-CP NGÀY 01/01/2017 CỦA CHÍNH PHỦ

1. Ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát:

1.1. Phối hợp chặt chẽ trong điều hành chính sách kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát.

Bộ Xây dựng tiếp tục thực hiện rà soát các quy định của Luật Nhà ở năm 2014, Nghị định số 100/2015/NĐ-CP về quản lý và phát triển nhà ở xã hội để nghiên cứu, bổ sung các cơ chế, chính sách hỗ trợ để đẩy mạnh việc phát triển nhà ở xã hội; nghiên cứu cơ chế, chính sách để khuyến khích phát triển nhà ở cho thuê, nhà ở thương mại giá thấp tại một số thành phố thấp; tập trung thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp nhằm phát triển nhà ở xã hội, nhà ở công nhân theo Chỉ thị số 03/CT-TTg ngày 25/01/2017. Thực hiện theo dõi diễn biến, cập nhật thông tin về tình hình thị trường bất động sản, phối hợp với Ngân hàng nhà nước Việt Nam về các thông tin dư nợ cho vay trong lĩnh vực đầu tư, kinh doanh bất động sản hàng tháng, nhằm kịp thời báo cáo Chính phủ; tổ chức đoàn công tác liên ngành kiểm tra, đánh giá về tình hình thực hiện các dự án bất động sản cao cấp, sử dụng nhiều diện tích đất tại một số địa phương trọng điểm theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ (tại Thông báo số 389/TB-VPCP ngày 06/12/2016 của Văn phòng Chính phủ).  

Trong 7 tháng năm 2017, thị trường bất động sản tiếp tục duy trì tăng trưởng ổn định, thể hiện qua các yếu tố: (i) giá cả, số lượng giao dịch, tính thanh khoản ổn định, không có nhiều biến động, (ii) tồn kho tiếp tục giảm, (iii) cơ cấu hàng hóa tiếp tục được điều chỉnh để phù hợp hơn với nhu cầu đa dạng của thị trường; (iv) tín dụng trong lĩnh vực bất động sản tiếp tục tăng trưởng. Thị trường bất động sản du lịch, nghỉ dưỡng tại một số địa phương ven biển như Đà Nẵng, Nha Trang (Khánh Hòa), Phú Quốc (Kiên Giang) phát triển mạnh đang thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Đồng thời, Bộ Xây dựng đã thực hiện theo dõi, cập nhật thường xuyên tình hình thị trường vật liệu xây dựng để kịp thời đưa ra những giải pháp đẩy mạnh hoạt động sản xuất nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu của thị trường, thúc đẩy tiêu thụ hàng tồn kho; phối hợp với Bộ, ngành, đơn vị có những điều chỉnh kịp thời để đảm bảo có đủ nguyên liệu cho các nhà máy xi măng hoạt động ổn định và sử dụng hợp lý khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường cho các dự án xây dựng; tổ chức các đoàn công tác tại các tỉnh/thành phố về công tác quản lý nhà nước lĩnh vực xi măng; kiểm tra, rà soát tình hình sử dụng tro, xỉ thạch cao của các nhà máy nhiệt điện phân bón, hóa chất tại các doanh nghiệp xi măng; phối hợp với Bộ, ngành liên quan rà soát, bổ sung kịp thời các danh mục vật tư xây dựng trong nước đã sản xuất được nhằm kiềm chế nhập siêu, kiểm soát các mặt hàng nhập khẩu, hạn chế nhập khẩu các mặt hàng trong nước đã sản xuất được;…

Thị trường vật liệu xây dựng trong 7 tháng năm 2017 nhìn chung vẫn ổn định. Các quy hoạch, chương trình phát triển vật liệu xây dựng tiếp tục được triển khai nhằm bảo đảm cân đối cung - cầu, đáp ứng nhu cầu của thị trường:

- Tổng sản lượng xi măng, clinker tiêu thụ trong 7 tháng năm 2017 ước đạt khoảng 48,02 triệu tấn, đạt 60% kế hoạch, tăng 2,3% so với cùng kỳ; trong đó, tiêu thụ nội địa khoảng 36,68 triệu tấn, tương đương so với cùng kỳ; xuất khẩu khoảng 11,34 triệu tấn; Tồn kho tháng 7/2017 khoảng 3,55 triệu tấn, chủ yếu là clanker.

- Trong 7 tháng năm 2017: kính xây dựng cả nước sản xuất ước đạt 109 triệu m2 (QTC), bằng 96% so với cùng kỳ năm 2016; gạch ốp lát cả nước sản xuất ước đạt 323 triệu m2 bằng 105% so với cùng kỳ năm 2016; sứ vệ sinh cả nước sản xuất ước đạt 7,2 triệu sản phẩm, bằng 105% so với cùng kỳ năm 2016.

Quy hoạch phát triển công nghiệp xi măng Việt Nam, Quy hoạch thăm dò, khai thác và sử dụng khoáng sản làm xi măng và vật liệu xây dựng chủ yếu đang được Bộ Xây dựng tiếp tục tập trung nghiên cứu, trình Thủ tướng Chính phủ; các quy hoạch sản phẩm vật liệu xây dựng khác được tổ chức rà soát theo hướng loại bỏ các quy hoạch sản phẩm không mang tính thiết yếu và có thể tự điều tiết bởi thị trường (như quy hoạch kính phẳng xây dựng,...); tiếp tục chỉ đạo, đôn đốc các địa phương nghiên cứu, lập và phê duyệt quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng, quy hoạch thăm dò khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường của địa phương. Xây dựng kế hoạch để triển khai "Đề án đẩy mạnh xử lý, sử dụng tro, xỉ, thạch cao của các nhà máy nhiệt điện, nhà máy hóa chất, phân bón làm nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng và trong các công trình xây dựng” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Chủ động phối hợp với các bộ, ngành hướng dẫn các doanh nghiệp xuất khẩu khoáng sản làm vật liệu xây dựng, xây dựng chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam, bổ sung danh mục vật tư xây dựng trong nước đã sản xuất được để hạn chế nhập siêu, giải quyết các khó khăn vướng mắc liên quan đến chính sách xuất khẩu, thuế, khoáng sản làm vật liệu xây dựng.

1.2. Thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp trong quản lý và điều hành tài chính, ngân sách nhà nước.

Tiếp tục tập trung chỉ đạo các đơn vị thuộc Bộ nghiêm túc triển khai thực hiện Chỉ thị số 01/CT-BXD ngày 05/4/2017 về việc đẩy nhanh việc thực hiện, giải ngân vốn đầu tư công và vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư năm 2017; tổ chức các đoàn kiểm tra, giám sát, đánh giá dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn NSNN năm 2017. Trên cơ sở danh mục dự án, mức vốn được phân bổ cho từng dự án trong Kế hoạch đầu tư trung hạn giai đoạn 2016 – 2020, Bộ Xây dựng đã hoàn thành việc thông báo cho các đơn vị được giao vốn làm cơ sở triển khai các thủ tục đầu tư tiếp theo. Tiếp tục theo dõi, đôn đốc định kỳ đối với dự án trọng điểm của Bộ, trong đó tập trung vào công tác nghiệm thu, thanh quyết toán, bàn giao công trình Nhà Quốc hội; triển khai các hạng mục đầu tư đối với dự án Đại học Quốc gia tại Hòa Lạc;...

Tiếp tục triển khai Chỉ thị số 31/CT-TTg ngày 02/11/2016 của Thủ tướng Chính phủ; chỉ đạo các đơn vị thuộc Bộ thực hiện các nội dung: xác định giá trị tài sản nhà nước giao cho đơn vị sự nghiệp công lập quản lý theo cơ chế giao vốn cho doanh nghiệp; xây dựng tiêu chuẩn, định mức máy móc, thiết bị chuyên dùng phục vụ hoạt động đặc thù; Triển khai mua sắm tài sản nhà nước theo phương thức tập trung,...; đôn đốc các đơn vị thuộc Bộ nghiêm túc thực hiện Chương trình hành động về tăng cường thực hành tiết kiệm, chống lãng phí của Bộ Xây dựng năm 2017 và giai đoạn 2016-2020, Kế hoạch hành động của Bộ Xây dựng để triển khai Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 18/11/2016 về chủ trương, giải pháp cơ cấu lại ngân sách nhà nước, quản lý nợ công để đảm bảo nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững; ban hành định mức xe ô tô chuyên dùng và xe ô tô phục vụ công tác chung của Bộ Xây dựng; thực hiện giao tài sản nhà nước cho 37 đơn vị sự nghiệp công lập quản lý theo cơ chế giao vốn cho doanh nghiệp... Tiếp tục chỉ đạo các đơn vị thuộc Bộ triệt để tiết kiệm các khoản chi thường xuyên; thực hiện cơ chế tạo nguồn cải cách tiền lương theo chế độ; thực hiện có hiệu quả các biện pháp chống thất thoát, lãng phí, tham nhũng; cắt giảm tối đa các khoản chi tổ chức hội nghị, hội thảo, khánh tiết,...

2. Về cải thiện môi trường kinh doanh, phát triển doanh nghiệp, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh

Triển khai Nghị quyết của Chính phủ giao, Bộ Xây dựng đã chủ trì phối hợp với các bộ, địa phương rà soát, đánh giá tình hình thực hiện các quy định về quản lý đầu tư xây dựng theo Luật Xây dựng và các nghị định hướng dẫn của Chính phủ, trong đó tập trung nghiên cứu, cải cách quy trình, rút ngắn thời gian thực hiện cấp phép xây dựng, tăng cường phân cấp, ủy quyền cho các bộ, ngành, địa phương trong công tác thẩm định thiết kế, dự toán công trình xây dựng.

Trên cơ sở kết quả rà soát, Bộ Xây dựng đã soạn thảo, trình Chính phủ ban hành Nghị định số 42/2017/NĐ-CP ngày 05/4/2017 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng và Nghị định số 53/2017/NĐ-CP ngày 08/5/2017 quy định các loại giấy tờ hợp pháp về đất đai để cấp giấy phép xây dựng, trong đó có nhiều nội dung đổi mới theo theo hướng tăng cường phân cấp, ủy quyền hợp lý trong quản lý các hoạt động xây dựng, nhất là đối với 02 đầu tầu kinh tế là Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh; phân định rõ trách nhiệm, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và năng lực thực hiện của các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành, cơ quan chuyên môn về xây dựng, người quyết định đầu tư , đồng thời cắt giảm các quy định, thủ tục hành chính không còn phù hợp.

Tại các địa phương, cùng với việc thực hiện rà soát, cải cách quy trình, thủ tục hành chính; các thủ tục hành chính trong công tác cấp phép xây dựng đã được công khai minh bạch, quy định rõ trách nhiệm của các chủ thể liên quan nên việc chấp hành các quy định của pháp luật đã được thiết lập và đi vào nề nếp.

Thực hiện Kế hoạch triển khai Nghị quyết số 36a/NQ-CP về Chính phủ điện tử, Bộ đã xây dựng Hệ thống dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 đối với việc cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng, đã hoàn thành xây dựng phần mềm, cấp giấy phép xây dựng, đã triển khai xây dựng cổng thông tin công khai quy hoạch đô thị toàn quốc, xây dựng hệ thống và đang vận hành thử nghiệm đối với việc cấp phép thầu cho nhà thầu nước ngoài, đã vận hành hệ thống đăng ký công nhận, công nhận bổ sung phòng thí nghiệm chuyên ngành xây dựng; đang triển khai xây dựng hệ thống thông tin thống kê ngành xây dựng, dự kiến sẽ được đưa vào vận hành trong quý III/2017, Hệ thống thông tin về nhà ở và thị trường bất động sản, dự kiến sẽ được đưa vào vận hành trong quý IV/2017.

Bộ Xây dựng tiếp tục tổ chức triển khai Chương trình hành động của Bộ Xây dựng thực hiện Nghị quyết số 27/NQ-CP ngày 21/02/2017 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 01/11/2016 của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế và Nghị quyết số 24/2016/QH14 ngày 08/11/2016 của Quốc hội về Kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2016 – 2020.

3. Về thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp nhằm tiếp tục cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng:

Thực hiện theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Xây dựng đã rà soát, xây dựng kịch bản tăng trưởng kinh tế của từng ngành, lĩnh vực, sản phẩm chủ lực của ngành Xây dựng; xác định rõ các chỉ tiêu, giải pháp cụ thể để thúc đẩy tăng trưởng, đảm bảo mục tiêu tăng trưởng năm 2017 của Ngành Xây dựng theo mục tiêu đề ra.

Hệ thống quy chuẩn xây dựng, các công cụ quản lý chi phí đầu tư xây dựng được tiếp tục sửa đổi, bổ sung, ngày càng đồng bộ, đầy đủ, theo hướng phù hợp với cơ chế thị trường, hội nhập quốc tế, tiệm cận xu hướng phát triển công nghệ và thực tiễn, đáp ứng yêu cầu quản lý đầu tư xây dựng. Bộ đã hoàn thiện và trình Thủ tướng Chính phủ Đề án “Hoàn thiện hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật và giá trong lĩnh vực xây dựng”. Tập trung xây dựng Đề án “Đổi mới, nâng cao chất lượng hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật ngành xây dựng đến 2020, tầm nhìn 2030 ”.

Tiếp tục tổ chức thực hiện và hoàn thành quy hoạch hệ thống các quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn 2030 cho các lĩnh vực: (i) Tiêu chuẩn hóa, kiến trúc, quy hoạch; (ii) hạ tầng kỹ thuật và môi trường; (iii) nhà ở và các công trình dân dụng; (iv) khảo sát xây dựng; (v) kết cấu và công nghệ xây dựng; (vi) địa kỹ thuật và nền móng công trình; (vii) sản phẩm hàng hóa, vật liệu xây dựng. Quy hoạch này bao gồm danh mục các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, tiêu chuẩn quốc gia của ngành Xây dựng sẽ được xây dựng mới, soát xét trong từng thời kỳ nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển công nghệ, hài hòa với các tiêu chuẩn quốc tế.

Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các quy chuẩn về quy hoạch xây dựng, công trình ngầm, nhà công nghiệp, nhà ở và công trình công cộng; nguyên tắc phân loại, phân cấp công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp và hạ tầng kỹ thuật; sản phẩm hàng hóa vật liệu xây dựng, công trình xây dựng sử dụng năng lượng hiệu quả. Tính từ đầu năm đến nay, số lượng tiêu chuẩn đã chuyển Tổng cục Tiêu chuẩn đo lường chất lượng thẩm định và công bố 29 tiêu chuẩn; số lượng tiêu chuẩn đã hoàn thành dự thảo, thành lập hội đồng thẩm định khoảng 50 tiêu chuẩn.

Tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung các định mức kinh tế - kỹ thuật, xây dựng suất vốn đầu tư năm 2016; trong 6 tháng đầu năm, đã công bố 03 tập định mức về chi phí quản lý dự án và tư vấn đầu tư xây dựng, định mức dự toán xây dựng công trình phần xây dựng và lắp đặt; đã ban hành các Thông tư hướng dẫn: xác định và quản lý chi phí khảo sát xây dựng; xác định, quản lý chi phí quy hoạch xây dựng và đô thị; phương pháp định giá dịch vụ xử lý chất thải rắn sinh hoạt.

Tiếp tục rà soát, xây dựng cơ sở dữ liệu về giá xây dựng, thực hiện công bố chỉ số giá xây dựng trên phạm vi cả nước. Đến nay, đã có 62/63 địa phương đã thực hiện công bố chỉ số giá xây dựng trên địa bàn. Nhìn chung mặt bằng giá cả xây dựng ổn định, dao động trong khoảng từ 1%-5%, biến động của các yếu tố đầu vào trong dự toán xây dựng công trình theo xu hướng tăng nhẹ. Tuy nhiên từ tháng 4/2017, giá cát có xu hướng tăng đột biến với biên độ từ 50-200% so với tháng 3/2017, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và tiến độ của nhiều công trình xây dựng.

Công tác thẩm định dự án, thiết kế và dự toán xây dựng đã được các chủ thể có liên quan nghiêm túc thực hiện. Việc thẩm định dự án, thiết kế cơ sở được thực hiện tốt, đảm bảo thời gian và chất lượng, giúp Chủ đầu tư dự án thực hiện đúng các quy định về đầu tư xây dựng. Chất lượng thẩm định được nâng cao hơn, tỷ lệ cắt giảm chi phí sau thẩm định dự án vào khoảng 1,77 % tổng mức đầu tư; thông qua việc thẩm định thiết kế, dự toán đã cắt giảm chi phí khoảng 8,46% so với dự toán; tỷ lệ hồ sơ phải sửa đổi, bổ sung thiết kế chiếm khoảng 26,3%, góp phần chống thất thoát, lãng phí đối với các dự án ngân sách nhà nước, kịp thời ngăn ngừa các rủi ro về chất lượng, an toàn công trình.

Công tác quản lý năng lực hoạt động xây dựng được quan tâm, bảo đảm công khai, minh bạch năng lực của các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xây dựng. Tính đến nay, Bộ Xây dựng và 34/63 Sở Xây dựng đã tổ chức xét, cấp chứng chỉ năng lực cho 1.371 tổ chức (trong đó 638 hạng I, 191 hạng II và 542 hạng III), cấp chứng chỉ hành nghề cho 3.153 cá nhân hoạt động xây dựng (trong đó 2.302 hạng I, 533 hạng II và 318 hạng III), cấp 70 giấy phép cho nhà thầu nước ngoài hoạt động xây dựng tại Việt Nam.

Công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng theo Nghị định số 46/2015/NĐ-CP đã tạo chuyển biến tích cực về tình hình chất lượng các công trình xây dựng và đã phát huy được vai trò giám sát, quản lý nhà nước về chất lượng xây dựng. Từ đầu năm đến nay, cơ quan chuyên môn thuộc Bộ Xây dựng đã tổ chức kiểm tra 150 đợt đối với các công trình thuộc phạm vi quản lý; tổ chức kiểm tra an toàn hồ đập 10 công trình; tổ chức kiểm tra các công trình dạng tháp tại một số địa phương; xây dựng các tài liệu kỹ thuật, quy trình bảo trì, quy trình kiểm định cho các công trình tháp truyền thông; kịp thời tổ chức kiểm tra, tham gia giải quyết một số sự cố công trình. Phối hợp với Bộ Công an xây dựng quy chế phối hợp thực hiện lồng ghép thủ tục thẩm duyệt thiết kế phòng cháy chữa cháy với thủ tục thẩm định dự án, thẩm định thiết kế xây dựng; thành lập đoàn liên ngành kiểm tra công tác nghiệm thu công trình xây dựng và phòng cháy, chữa cháy.

Triển khai thực hiện Chỉ thị số 05/CT-TTg ngày 15/02/2016 của Thủ tướng Chính phủ về kiểm tra, rà soát đánh giá an toàn chịu lực nhà ở và công trình công cộng cũ, nguy hiểm tại đô thị, Bộ đã tổ chức tập huấn cho một số địa phương triển khai thực hiện quy trình đánh giá, kiểm định chất lượng nhà chung cư và đang tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ về kết quả thực hiện giai đoạn 1. Theo báo cáo hiện nay trên cả nước có hơn 3 triệu m2 sàn nhà ở chung cư cũ được xây dựng trước năm 1991, tương đương khoảng 100 nghìn căn hộ, trong đó có hơn 200 khối nhà đã bị xuống cấp nghiêm trọng, tập trung chủ yếu tại TP.Hà Nội và TP.HCM. Hiện nay, các địa phương đang tiếp tục triển khai thực hiện cải tạo, xây dựng lại chung cư cũ nhưng kết quả thực hiện còn hạn chế.

Trong 7 tháng năm 2017, Hội đồng nghiệm thu nhà nước đã tổ chức kiểm tra 54 đợt đối với các công trình thuộc thẩm quyền quản lý, trong đó có 11 công trình, gói thầu được nghiệm thu đưa vào sử dụng. Nhìn chung chất lượng các công trình trọng điểm được kiểm soát chặt chẽ, đảm bảo yêu cầu thiết kế, đáp ứng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, vận hành an toàn và phát huy hiệu quả.

Đẩy mạnh công tác sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2016-2020, Bộ đã ban hành kế hoạch triển khai Chỉ thị số 04/CT-TTg ngày 02/02/2017 của Thủ tướng Chính phủ, trình Thủ tướng Chính phủ thông qua phương án sắp xếp, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn nhà nước do Bộ làm đại diện chủ sở hữu giai đoạn 2016-2020, hiện đang đôn đốc các đơn vị xây dựng phương án tái cơ cấu cụ thể.

Tiếp tục triển khai công tác cổ phần hóa 04 Tổng công ty gồm: Sông Đà, HUD, IDICO và VICEM. Hiện Bộ đã xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện phương án cổ phần hóa Tổng công ty Sông Đà, IDICO sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; đang trình phương án cổ phần hóa Tổng công ty HUD; thực hiện xác định giá trị doanh nghiệp Tổng công ty VICEM. Tiếp tục thực hiện quyết toán vốn nhà nước bàn giao sang công ty cổ phần đối với các Tổng công ty đã hoàn thành cổ phần hóa. Đã tổ chức đấu giá thành công 120 triệu cổ phần để tăng vốn điều lệ Tổng công ty VIGLACERA, thu về doanh nghiệp 1.941 tỷ đồng. Chấp thuận chủ trương phát hành, thỏa thuận cho 10 Tổng công ty thực hiện thoái, tăng, giảm vốn tại 32 công ty con, công ty liên kết; thực hiện thoái vốn thành công tại 05 đơn vị với giá trị thoái 624,83 tỷ đồng, thu về 632,64 tỷ đồng.

Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ về cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập đang được Bộ tiếp tục tập trung thực hiện, trong đó đẩy mạnh quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị gắn với cơ chế đặt hàng và giao nhiệm vụ; đang thực hiện rà soát, phân loại đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ đủ điều kiện chuyển đổi thành công ty cổ phần theo quy định, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh mục, phương án chuyển đổi; thực hiện rà soát, đánh giá tình hình hoạt động để chuẩn bị cho việc sắp xếp lại các cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học, y tế theo Quy hoạch mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ Xây dựng sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt;...

4.Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện 3 đột phá trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020.

4.1. Công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế.

Nhằm tiếp tục nâng cao năng lực, chất lượng tham mưu về hoàn thiện thể chế, trong 7 tháng đầu năm 2017, Bộ Xây dựng đã tổ chức kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện và tác động của pháp luật, chính sách mới được ban hành; kịp thời phát hiện những bất cập, vướng mắc, chủ động đề xuất xây dựng mới, sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật đảm bảo tính đồng bộ, phù hợp với thực tiễn:

- Tập trung nghiên cứu, xây dựng 02 dự án Luật (Luật Quản lý phát triển đô thị và Luật Kiến trúc) đã được Quốc hội xem xét đưa vào chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV. Đã trình và được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ký ban hành 06 văn bản, gồm: 02 Nghị định, 02 Quyết định, 02 Chỉ thị; ban hành theo thẩm quyền 09 Thông tư. Tiếp tục hoàn thiện 06 văn bản, đề án đã trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ (02 Nghị định, 04 Quyết định) và tập trung hoàn thiện các Thông tư nhằm đảm bảo hệ thống pháp luật về xây dựng được ban hành kịp thời, đầy đủ và đồng bộ.

- Nghiên cứu, đề xuất với Chính phủ xây dựng Luật Cấp nước để đưa vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2019.

- Tiếp tục thực hiện việc rà soát các quy định của pháp luật liên quan đến đất đai, xây dựng, nhà ở, đầu tư, kinh doanh; rà soát các nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các luật liên quan đến đầu tư, kinh doanh thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước của Bộ, đề xuất sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật theo lộ trình.

- Tập trung rà soát toàn bộ hệ thống văn bản pháp luật trong các lĩnh vực quy hoạch xây dựng, đô thị, quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng liên quan đến dự thảo Luật Quy hoạch trình Quốc hội khóa XIV tại kỳ họp thứ 4 để có cơ sở báo cáo, kiến nghị với Quốc hội, Chính phủ về những ảnh hưởng, tác động của dự thảo Luật này đối với ngành Xây dựng.

Các đơn vị thuộc Bộ tiếp tục tổ chức triển khai các chương trình liên quan đến công tác pháp chế trong năm 2017: Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật và hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp; Kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật, Kế hoạch kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật;rà soát các văn bản QPPL mới ban hành để tổ chức các lớp tập huấn, rà soát đội ngũ báo cáo viên pháp luật,... Trong 7 tháng năm 2017, Bộ Xây dựng đã tổ chức các hội nghị tập huấn nhằm phổ biến, hướng dẫn triển khai các văn bản QPPL nhất là trong lĩnh vực quản lý hoạt động xây dựng. Đồng thời, Bộ đã tổ chức kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện và tác động của luật pháp, chính sách mới được ban hành trong các lĩnh vực của Ngành để kịp thời phát hiện những bất cập, vướng mắc, chủ động đề xuất sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn.

4.2. Tiếp tục phát triển thị trường bất động sản ổn định, thông suốt, hiệu quả.

Tiếp tục triển khai thực hiện các quy định mới của Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản và các văn bản hướng dẫn thực hiện, tạo điều kiện thông thoáng, thuận lợi để thu hút các nguồn lực trong và ngoài nước tham gia đầu tư phát triển thị trường bất động sản, cũng như đảm bảo yêu cầu tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước để kiểm soát thị trường phát triển ổn định, lành mạnh; tập trung nghiên cứu xây dựng "Đề án đánh giá tình hình thị trường, dự báo xu hướng trung hạn, đề xuất các giải pháp, cơ chế chính sách để thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển ổn định, lành mạnh".

Bộ Xây dựng tiếp tục thực hiện tái cơ cấu thị trường bất động sản gắn với thực hiện Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia, đặc biệt là nhà ở xã hội; phối hợp với các địa phương rà soát, phân loại, điều chỉnh cơ cấu sản phẩm hàng hóa các dự án phát triển nhà ở, khu đô thị mới cho phù hợp với nhu cầu của thị trường, phù hợp kế hoạch phát triển nhà ở của địa phương, bảo đảm cân đối cung - cầu hàng hóa nhà ở, đẩy mạnh phát triển nhà ở cho thuê.

Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực thi pháp luật về nhà ở và thị trường bất động sản trên phạm vi toàn quốc, Bộ đã yêu cầu các địa phương và tổng hợp báo cáo tình hình thực hiện các dự án khu đô thị, dự án phát triển nhà ở và dự án bất động sản nghỉ dưỡng quy mô lớn; thành lập 03 đoàn kiểm tra liên ngành để kiểm tra tình hình thực hiện các dự án bất động sản cao cấp, sử dụng nhiều diện tích đất tại một số địa phương trọng điểm và dự kiến báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 7/2017. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện đầu tư xây dựng khu hành chính tập trung tại các địa phương.

Tiếp tục triển khai xây dựng hệ thống phần mềm thông tin, cơ sở dữ liệu về nhà ở và thị trường bất động sản, trong thời gian tới sẽ hoàn thiện việc xây dựng phần mềm và chuyển giao, hướng dẫn các địa phương triển khai thực hiện.

4.3. Về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ.

Tập trung đẩy nhanh tiến độ và nâng cao chất lượng công tác lập, điều chỉnh quy hoạch xây dựng vùng, quy hoạch đô thị, quy hoạch xây dựng nông thôn, quy hoạch chuyên ngành hạ tầng kỹ thuật; tổ chức triển khai thực hiện các đồ án quy hoạch đã được phê duyệt. Trong 7 tháng năm 2017, Bộ đã tổ chức lập, thẩm định, trình và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt 02 đồ án và 02 nhiệm vụ quy hoạch; tổ chức thẩm định nhiệm vụ 02 đồ án quy hoạch chung khu chức năng đặc thù, 04 đồ án quy hoạch vùng; hoàn thành việc tổ chức lập, thẩm định trình Thủ tướng Chính phủ đồ án Điều chỉnh Quy hoạch xây dựng vùng Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 (Tờ trình số 20/TTr-BXD ngày 23/3/2017). Tổ chức nghiên cứu lập nhiệm vụ quy hoạch cho một số vùng liên tỉnh, khu chức năng đặc thù; tiếp tục hoàn thiện 08 thiết kế đô thị mẫu đặc trưng theo vùng, miền.

Xây dựng kế hoạch thực hiện đề án “Xây dựng nông thôn mới trong quá trình đô thị hóa trên địa bàn cấp huyện” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 676/QĐ-TTg ngày 18/5/2017, trong đó Bộ xây dựng được giao nhiệm vụ chủ trì tổ chức thực hiện đề án, nghiên cứu, cụ thể hóa các tiêu chí xây dựng điểm trung tâm dịch vụ hỗ trợ sản xuất; hướng dẫn các địa phương triển khai đồ án quy hoạch xây dựng vùng huyện; nghiên cứu, lập thí điểm quy hoạch xây dựng cho 08 huyện điển hình thuộc 06 vùng toàn quốc.

Tiếp tục tham gia ý kiến về các đồ án quy hoạch, quy chế quản lý quy hoạch kiến trúc, quy hoạch xây dựng đô thị tại các đô thị trên cả nước, các công trình kiến trúc trọng điểm, các dự án đầu tư xây dựng quy mô lớn và có yêu cầu đặc biệt tại các địa phương; tiếp tục xây dựng điều chỉnh định hướng kiến trúc Việt Nam đến năm 2030. Tổng hợp, xây dựng cơ sở dữ liệu quy hoạch xây dựng đô thị theo Nghị quyết 36a/NQ-CP về công khai quy hoạch đô thị trên toàn quốc và quy chế quản lý quy hoạch kiến trúc đô thị toàn quốc.

Tiếp tục tổ chức triển khai thực hiện các đồ án chuyên ngành hạ tầng kỹ thuật đã được phê duyệt; hướng dẫn, đôn đốc các địa phương đẩy nhanh tiến độ lập, thẩm định phê duyệt các quy hoạch chuyên ngành, tập trung hoàn thành việc lập, phê duyệt quy hoạch chuyên ngành hạ tầng kỹ thuật vùng liên tỉnh, vùng tỉnh và các thành phố trực thuộc trung ương.

Thực hiện nhiệm vụ Chính phủ giao tại Nghị quyết số 103/NQ-CP ngày 05/12/2016, Bộ Xây dựng đã tổ chức kiểm tra, rà soát các quy hoạch liên quan đến công tác quản lý đô thị, cấp phép xây dựng tại các địa phương; chủ trì phối hợp với các bộ, ngành, UBND TP.Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh tổ chức thanh tra, kiểm tra công tác quản lý quy hoạch đô thị, nhất là việc quản lý quy hoạch và cấp phép xây dựng các khu đô thị mới, chung cư cao tầng, báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện.

Công tác quản lý, kiểm soát chặt chẽ phát triển đô thị theo quy hoạch và kế hoạch đã có nhiều chuyển biến rõ nét, từng bước đảm bảo sự phát triển đô thị hài hòa, bền vững. Đến nay đã có 51/63 địa phương triển khai thực hiện lập Chương trình phát triển đô thị toàn tỉnh; các đô thị đã tập trung xây dựng chương trình phát triển đô thị, trong 7 tháng năm 2017, Bộ đã cho ý kiến thống nhất về chương trình phát triển đô thị 07 tỉnh.

Một số địa phương đã hình thành các khu vực phát triển đô thị để thực hiện đầu tư có trọng tâm, trọng điểm; chủ động áp dụng cơ chế cho phép chuyển quyền sử dụng đất đã đầu tư hạ tầng cho người dân tự xây dựng nhà ở theo quy hoạch chi tiết của dự án được duyệt, nhằm tháo gỡ khó khăn cho chủ đầu tư cũng như tạo điều kiện tiếp cận đất đai, nhà ở cho người dân; hướng dẫn nhà đầu tư thực hiện các dự án mới theo quy định, từng bước tạo sự thống nhất trong quy trình triển khai các dự án đầu tư phát triển đô thị; ban hành các quy định quản lý về phát triển đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị. Việc quản lý thực hiện theo các quy hoạch được phê duyệt đã góp phần định hình rõ nét các khu chức năng trong đô thị, tạo nên nhiều khu đô thị mới khang trang, hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị đồng bộ, tạo động lực thu hút đầu tư, góp phần tích cực phát triển kinh tế - xã hội.

Thực hiện Nghị quyết số 1210/2016/UBTVQH13 ngày 25/5/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về phân loại đô thị, Bộ đã xây dựng kế hoạch triển khai Nghị quyết, hướng dẫn các địa phương lập đề án, tổ chức thẩm định, công nhận loại đô thị. Trong 7 tháng năm 2017, Bộ đã phối hợp với các địa phương công nhận phân loại đô thị cho 08 đô thị; đang tiến hành thẩm định để xem xét, nâng loại đối với 02 đô thị (Thị trấn Lao Bảo và Thị trấn Khe Sanh, huyện Hướng Hóa, Quảng Trị lên loại IV). Tính đến tháng 7/2017 toàn quốc có 805 đô thị, gồm: 02 đô thị đặc biệt, 17 đô thị loại I, 25 đô thị loại II, 43 đô thị loại III, 85 đô thị loại IV và 633 đô thị loại V.

Việc đầu tư nâng cao chất lượng, đảm bảo tính đồng bộ của hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị tiếp tục được quan tâm. Các chỉ tiêu về hạ tầng kỹ thuật đô thị đều đảm bảo và vượt theo kế hoạch đề ra:

- Tổng công suất thiết kế các nhà máy nước đô thị toàn quốc đạt khoảng 8,5 triệu m3/ngđ (tăng 0,5 triệu m3/ngđ so với cuối năm 2016). Tỷ lệ dân cư đô thị được cung cấp nước qua hệ thống cấp nước tập trung ước đạt khoảng 84,5% (tăng 1% so với cuối năm 2016); Tỷ lệ thất thoát thất thu khoảng 23% (giảm 0,5% so với cuối năm 2016).

- Tỷ lệ thu gom và xử lý rác thải đô thị đạt khoảng 85%; tỷ lệ thu gom và xử lý rác thải nông thôn đạt khoảng 40%-50%.

Các chương trình dự án cấp quốc gia và cấp vùng về phát triển đô thị, hạ tầng kỹ thuật tiếp tục được tập trung thực hiện, góp phần nâng cấp hệ thống hạ tầng kỹ thuật, nâng cao chất lượng đời sống của người dân đô thị, tạo động lực thu hút đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội tại các tỉnh miền núi, ven biển, những địa bàn còn khó khăn.

4.4. Về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển khoa học công nghệ

Tiếp tục thực hiện Chiến lược phát triển khoa học công nghệ ngành Xây dựng, trong đó trọng tâm là nghiên cứu chiến lược, chính sách vĩ mô phục vụ quản lý nhà nước; nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao công nghệ tiên tiến nhằm giải quyết kịp thời các vấn đề lớn của Ngành và các vấn đề bức thiết của xã hội như: nghiên cứu xây dựng thực nghiệm công trình trên biển đảo; phát triển vật liệu xây dựng sử dụng tro, xỉ, thạch cao đã qua xử lý từ các nhà máy nhiệt điện, nhà máy hóa chất phân bón và các cơ sở công nghiệp phát thải khác; phát triển vật liệu xây và cấu kiện không nung cho công trình xây dựng đến 2020; ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ xây dựng Chính phủ điện tử; ứng dụng công nghệ, vật liệu tiết kiệm năng lượng, năng lượng tái tạo trong các công trình xây dựng và thúc đẩy phát triển công trình xanh.

Đã thực hiện phê duyệt đề án nâng cao năng suất, chất lượng ngành sản xuất vật liệu xây dựng và ban hành kế hoạch hành động về tăng trưởng xanh đến năm 2020, tầm nhìn 2030. Triển khai hiệu quả các dự án hợp tác quốc tế về tiết kiệm năng lượng trong các tòa nhà thương mại và chung cư cao tầng; giảm phát thải khí nhà kính, xây dựng thị trường các-bon tại Việt Nam liên quan đến quản lý chất thải rắn.

Tiếp tục tập trung thực hiện Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực ngành Xây dựng; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức năm 2017: đào tạo, bồi dưỡng về quản lý đấu thầu, phổ biến công tác dân chủ, dân vận, tổ chức lớp cao cấp lý luận chính trị hệ không tập trung;... hoàn thành bàn giao Trường Trung cấp nghề Công nghiệp và Xây dựng FICO về Học viện Cán bộ quản lý xây dựng và đô thị.

5.Về thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp nhằm bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội:

Các Chương trình hỗ trợ phát triển nhà ở xã hội trọng điểm đang tiếp tục được tập trung triển khai có hiệu quả, cụ thể như sau:

- Chương trình hỗ trợ nhà ở cho người có công với cách mạng: đã hoàn thành hỗ trợ 116.967 hộ (với 61.080 hộ xây mới và 55.887 hộ sửa chữa, cải tạo), đang tiếp tục hỗ trợ cho khoảng 6.782 hộ.

- Chương trình tôn nền vượt lũ đồng bằng sông Cửu Long (giai đoạn 2): đã hoàn thành đầu tư xây dựng 178/179 cụm, tuyến dân cư và bờ bao (đạt 99%); đã bố trí cho 52.220 hộ khu vực ngập lũ vào ở (đạt 93,4%); đang tiến hành bổ sung thêm khoảng 130 dự án thuộc các khu vực sạt lở để triển khai trong giai đoạn 2016-2020.

- Chương trình hỗ trợ nhà ở cho các hộ nghèo khu vực nông thôn: dự kiến hỗ trợ cho khoảng 311.000 hộ trong giai đoạn 2016-2020,các địa phương cơ bản hoàn thành việc phê duyệt đề án và hoàn tất các điều kiện để triển khai. Đến nay, đã có 15.958 hộ dân được hỗ trợ vay vốn, tương đương 406 tỷ đồng được giải ngân; tính từ đầu năm, đã có có khoảng 1.153 hộ dân được hỗ trợ vay vốn với số đã giải ngân 28,8 tỷ đồng. Năm 2017, Ngân hàng Chính sách xã hội đã thực hiện phân giao chỉ tiêu cho chi nhánh các tỉnh, thành phố tổng số tiền 1.295 tỷ đồng. Hiện Bộ đang đôn đốc các địa phương khẩn trương triển khai hỗ trợ các hộ dân vay vốn xây dựng nhà ở.

- Chương trình đầu tư xây dựng nhà ở cho sinh viên, học sinh các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề: đã có 89/95 dự án nhà ở sinh viên hoàn thành đưa vào sử dụng , giải quyết chỗ ở cho khoảng gần 220.000 sinh viên (trong 7 tháng năm 2017 hoàn thành 01 dự án, giải quyết cho chỗ ở cho 20.000 sinh viên), 06 dự án đang trong giai đoạn hoàn thiện. Số lượng sinh viên, học sinh đã được bố trí vào ở đạt tỷ lệ bình quân chung khoảng 83%.

- Chương trình phát triển nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp tại khu vực đô thị, công nhân khu công nghiệp: cả nước đã hoàn thành đầu tư xây dựng 184 dự án, với quy mô xây dựng khoảng 72.000 căn hộ; các địa phương đang tiếp tục triển khai 195 dự án, với quy mô xây dựng khoảng 165.000 căn hộ. Trong 7 tháng năm 2017, đã có thêm 05 dự án nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp và công nhân khu công nghiệp đã hoàn thành, với quy mô khoảng 1.225 căn; 04 dự án đang triển khai đầu tư xây dựng với quy mô khoảng 2.220 căn hộ.

6. Về thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp nhằm chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường:

Bộ Xây dựng đang phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường, các đơn vị liên quan tiến hành rà soát danh mục các cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm cao làm cơ sở để xem xét, định hướng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài theo tinh thần của Chỉ thị số 25/CT-TTg ngày 31/8/2016; tổ chức nghiên cứu, rà soát đánh giá công tác bảo vệ môi trường tại các đơn vị của Ngành; rà soát, điều chỉnh, bổ sung nội dung bảo vệ môi trường trong các quy hoạch xây dựng vùng, quy hoạch đô thị, quy hoạch xây dựng khu chức năng đặc thù do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Tiếp tục triển khai hiệu quả Đề án Phát triển các đô thị Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu theo Quyết định số 2623/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; đã đề xuất các nhiệm vụ triển khai trong năm 2017 và 2018-2020; phối hợp với các Bộ, ngành liên quan rà soát một số hợp phần, đảm bảo hiệu quả, tránh trùng lặp.

Tiếp tục đôn đốc các địa phương triển khai Chương trình phát triển vật liệu xây không nung đến năm 2020 theo Quyết định số 567/QĐ-TTg ngày 28/4/2010 và Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 16/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường sử dụng vật liệu xây không nung, hạn chế sản xuất và sử dụng gạch đất sét nung. Trong 7 tháng năm 2017, gạch không nung cả nước sản xuất ước đạt 3,67 tỷ viên (QTC) tăng 2,5% so với cùng kỳ năm 2016.

Thường xuyên phối hợp với các Bộ, ngành liên quan hướng dẫn các doanh nghiệp xuất khẩu khoáng sản làm vật liệu xây dựng theo Thông tư 04/2012/TT-BXD, đang tạm hoãn hướng dẫn xuất khẩu cát nhiễm mặn; đôn đốc, kiểm tra các cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng có sử dụng amiang thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về môi trường, y tế và thực hiện Quy chuẩn Việt Nam; Điều tra, đánh giá xử lý chất thải từ các nhà máy nhiệt điện, nhà máy hóa chất phân bón để làm vật liệu xây dựng, đánh giá tác động đến kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường, báo cáo và đề xuất giải pháp với Thủ tướng Chính phủ; kiểm tra, đôn đốc việc chấp hành các quy định về sử dụng amiang trắng để sản xuất tấp lợp fibro xi măng tại một số đơn vị sản xuất tấp lợp;…

Thực hiện rà soát trình Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh, bổ sung nội dung bảo vệ môi trường trong các quy hoạch xây dựng vùng, quy hoạch đô thị, quy hoạch xây dựng khu chức năng đặc thù do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; hiện Bộ đã xác định danh mục các đồ án quy hoạch xây dựng cần rà soát nội dung bảo vệ môi trường; đang xây dựng đề cương các nội dung cần điều chỉnh, bổ sung về bảo vệ môi trường.

7. Về thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp nhằm đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, phòng chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo:

Trong 7 tháng năm 2017, Bộ đã triển khai 55/90 đoàn thanh tra, kiểm tra chuyên ngành và đột xuất (đạt 61,1% kế hoạch năm 2017), ban hành 104 kết luận thanh tra. Qua thanh tra đã phát hiện một số vi phạm và kiến nghị xử lý về kinh tế số tiền 5.962 tỷ đồng. Công tác thanh tra đã giúp các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng nâng cao nhận thức, thực hiện theo quy định của pháp luật xây dựng, chấn chỉnh và khắc phục một số tồn tại. Đồng thời kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách, góp phần ngăn chặn có hiệu quả các hành vi sai phạm trong hoạt động xây dựng.

Công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư, giải quyết khiếu nại tố cáo đối với các vụ việc mới phát sinh, các vụ việc phức tạp, kéo dài tiếp tục được tập trung giải quyết, góp phần ổn định an ninh trật tự, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, công dân, tăng cường kỷ cương, kỷ luật hành chính. Trong 7 tháng năm 2017, đã tiếp 134 người/70 lượt (06 đoàn đông người), tiếp nhận 297 lượt đơn thư; thành lập đoàn thanh tra, tổ chức đối thoại, giải quyết các vụ việc khiếu nại tố cáo phức tạp theo đúng quy định của pháp luật. Tổ chức tập huấn, tuyên truyền phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng năm 2017 tại 05 đơn vị trực thuộc Bộ; hướng dẫn và xây dựng báo cáo tổng hợp việc kê khai tài sản thu nhập đối với các đơn vị, thực hiện đầy đủ việc báo cáo định kỳ và đột xuất về công tác phòng, chống tham nhũng.

Trên cơ sở bám sát các nhiệm vụ được giao và sự chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Xây dựng đã ban hành Kế hoạch kiểm soát thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý, thẩm quyền giải quyết của Bộ(Quyết định số 1386/QĐ-BXD ngày 29/12/2016); đồng thời Bộ đã chỉ đạo, quán triệt, đôn đốc các cơ quan, đơn vị chuyên môn triển khai thực hiện kế hoạch đảm bảo chất lượng và tiến độ công việc.

Bộ đã chú trọng công tác Kiểm soát việc ban hành mới các thủ tục hành chính thông qua việc thực hiện đánh giá tác động TTHC, tham gia ý kiến, thẩm định đối với dự thảo các văn bản QPPL thuộc thẩm quyền ban hành của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.

Thực hiện Quyết định số 45/2016/QĐ-TTg ngày 19/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp nhận hồ sơ, trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính qua dịch vụ bưu chính công ích, Bộ Xây dựng đã ban hành Quyết định số 484/QĐ-BXD về việc công bố danh mục thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng được thực hiện qua dịch vụ bưu chính công ích.

Tổ chức tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về TTHC liên quan đến hoạt động kinh doanh và đời sống của nhân dân thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ; xử lý theo thẩm quyền đối với các phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính.

Công tác cải cách tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức được thực hiện thường xuyên, liên tục theo hướng tinh gọn, đáp ứng yêu cầu thực hiện chức năng, nhiệm vụ. Chủ động rà soát chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các đơn vị hành chính thuộc Bộ theo dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 62/2013/NĐ-CP đã trình Chính phủ.

8. Về nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế:

Tiếp tục thực hiện vai trò điều phối các Ủy ban liên chính phủ (UBLCP) do Bộ trưởng Bộ Xây dựng làm Chủ tịch phân ban với các nước Cuba, Angieri, đôn đốc các bộ, ban, ngành trong việc thực hiện nội dung biên bản của các kỳ họp, kiến nghị Thủ tướng Chính phủ về các giải pháp để đảm bảo xuất khẩu gạo cho Cuba năm 2017, góp ý kiến cho phương án xử lý nợ của Chính phủ Cuba đối với Chính phủ Việt Nam; xây dựng kế hoạch tổ chức đoàn phân ban Việt Nam đi Angieri dự Kỳ họp lần thứ 11 UBLCP Việt Nam - Angieri.

Chủ động mở rộng phạm vi hợp tác song phương và đa phương theo hướng nâng cao hiệu quả, tập trung vào các lĩnh vực quan trọng của ngành Xây dựng. Rà soát, đánh giá tình hình triển khai hợp tác song phương với 22 nước và tổ chức quốc tế, tổ chức thành công Đối thoại APEC 2017 về đô thị hóa bền vững, ký kết biên bản hợp tác trong lĩnh vực hiệu quả năng lượng với Bộ Môi trường, Năng lượng và Biển Cộng hòa Pháp. Quản lý thực hiện và điều phối hiệu quả các chương trình, dự án ODA của Bộ Xây dựng.

II. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN NHÀ NƯỚC DO BỘ XÂY DỰNG LÀM ĐẠI DIỆN VỐN CHỦ SỞ HỮU.

1. Các chỉ tiêu kế hoạch sản xuất kinh doanh năm 2017 của các doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp có vốn góp của Nhà nước

Hiện nay, Bộ Xây dựng được giao quản lý 16 tổng công ty, trong đó: 04 tổng công ty – Công ty TNHH MTV, 08 tổng công ty cổ phần nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ; 04 tổng công ty cổ phần nhà nước nắm giữ dưới 50% vốn điều lệ.

Kế hoạch sản xuất kinh doanh năm 2017 của 04 Tổng công ty – Công ty TNHH 1TV và 08 tổng công ty cổ phần nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ là 108.764 tỷ đồng, trong đó:

- Giá trị xây lắp là 35.346 tỷ đồng.

- Giá trị sản xuất công nghiệp vật liệu xây dựng là 45.354 tỷ đồng.

- Giá trị tư vấn là 1.258 tỷ đồng.

- Giá trị sản xuất kinh doanh khác là 26.806 tỷ đồng.

2. Tình hình thực hiện sản xuất kinh doanh tháng 7 và 7 tháng năm 2017

Kết quả sản xuất kinh doanh của các đơn vị trong tháng 7 và 7 tháng năm 2017 như sau:

- Giá trị sản xuất kinh doanh tháng 7 ước đạt 9.145 tỷ đồng, trong 7 tháng năm 2017 ước đạt 60.189 tỷ đồng, bằng 55,3% so với kế hoạch năm 2017. Cụ thể như sau:

+ Giá trị xây lắp: ước thực hiện tháng 7 đạt 3.120 tỷ đồng, 7 tháng đầu năm 2017 đạt 19.998 tỷ đồng, bằng 56,6% so với kế hoạch năm 2017.

+ Giá trị sản xuất công nghiệp và vật liệu xây dựng (kể cả TCT CN Xi măng Việt Nam): ước thực hiện tháng 7 đạt 3.971 tỷ đồng, 7 tháng năm 2017 đạt 26.446 tỷ đồng, bằng 58,3% so với kế hoạch năm 2017.

+ Giá trị tư vấn: ước thực hiện tháng 7 đạt 115 tỷ đồng, trong 7 tháng năm 2017 đạt 757 tỷ đồng, bằng 60,2% so kế hoạch năm 2017.

+ Giá trị SXKD khác: ước thực hiện tháng 7 đạt 1.939 tỷ đồng, trong 7 tháng năm 2017 đạt 12.988 tỷ đồng, bằng 48,5% so kế hoạch năm 2017.

- Nhập khẩu: ước thực hiện tháng 7 đạt 0,3 triệu USD, 7 tháng năm 2017 đạt 125,380 triệu USD, bằng 37,4% so với kế hoạch năm 2017.

- Xuất khẩu: ước thực hiện tháng 7 đạt 4,531 triệu USD, 7 tháng năm 2017 đạt 73,204 triệu USD, bằng 129,2% so với kế hoạch năm 2017.

 


Trung tâm Thông tin
Nguồn: Báo cáo 52/BC-BXD. 



LIÊN KẾT WEBSITE